Ý nghĩa cúng dường trai tăng

Thầy Hằng Trường giảng, Xuân Dung ghi lại

Xin chào các bác và các anh chị,

Hôm nay thầy xin nói về vấn đề cúng dường thức ăn cho đại chúng. Có nhiều khi ta còn gọi là cúng dường trai tăng, tức là ta cúng dường hết tất cả chư tăng, để thỉnh hết các chư tăng hộ niệm, hộ trì. Đó là  một công đức rất lớn trong Phật giáo. Trường hợp không nhiều chư tăng thì ta cúng dường hết cho tất cả đại chúng tới cùng tu với ta. Những chuyện đó quan trọng ở chỗ nào?

Khi ta cúng dường cho một người tu tức là ta giúp cho họ tu hành. Đó là công đức hộ pháp. Nếu người đó có một giây phút thanh tịnh, thì giây phút đó sẽ được chia sẻ với người đã cúng dường cho họ. Ngày xưa ta cúng dường cho tất cả mọi người, không phải chỉ riêng đức Phât. Nếu đức Phật có 1000 người, ta cúng 1000 người, nếu 1500 thì cúng 1500 người. Phước đức đó không thể tưởng tượng được. Nhiều khi ta không tu được, nhưng ta lại làm cho người khác tu được, giúp cho người ta tu bằng cách, thí dụ, giúp họ một bữa ăn. Ngày xưa đức Phật rất tán thán việc làm này. Ngày nói “công đức cúng dường phần ăn là vô lượng vô biên; phước đức đó là vô lượng vô biên”. Một  người có thể nhờ phần ăn đó mà đắc định, hoặc tu được một giây phút nhỏ thanh tịnh. Chỉ một giây phút nhỏ đó thôi mà được thanh tịnh, tức là vô lượng vô biên. Thời gian đó không thể tính đếm được. Giây phút thanh tịnh đó sẽ khiến ta vĩnh viễn nhớ mãi kinh nghiệm được gọi là giác ngộ. Cho nên việc giúp người ta tu rất quan trọng.

Ngày xưa người ta gọi là hành hạnh hộ pháp, tức là đi hộ pháp, hộ thất cho người ta tu 5, 7 ngày (nhập thất); hoặc nhập trường thất tức là dài lâu, khi người ta tu cả năm ở trong đó, mình ở bên ngoài nấu ăn cúng dường. Nhưng có nhiều khi mình cúng dường cho những người nhập thất 5 ngày, 7 ngày hoặc 1 ngày, ta ở ngoài hộ thất. Phổ biến nhất là ta cúng dường cho tất cả đại chúng trong một pháp hội khi mọi người cùng tu.

Nếu công đức nhiều như vậy, ta làm gì? Thưa các bác, có một điều mà vong linh rất cảm kích nếu ta đem công đức cúng dường trai tăng hay cúng dường đại chúng đó hồi hướng cho những vong linh. Vì sao? Bởi vì thức ăn nuôi dưỡng sinh mạng. Sinh mạng đây là thân thể, thân xác này. Những vong linh nhờ vào công đức ta nuôi dưỡng thân thể, thân xác vật chất này, mà họ được đầu thai để có một thân thể. Do đó phước đức cúng dường trai tăng hay phước đức cúng dường đại chúng, mua thức phẩm cho bà con ăn, không thể tưởng tượng được và các vong linh rất mong muốn. Khi ta cúng dường và hồi hướng cho họ, thì họ sẽ được cái thân và họ sẽ được vãng sanh.

Khi cúng dường, thí chủ phải rất khiêm nhường, ra trước đại chúng, quỳ xuống đảnh lễ mọi người. Rất khiêm nhường dù là mình cúng dường bữa ăn đó, dù là 1000 người hay 1500 người, mình vẫn khiêm nhường cúi đầu đảnh lễ, lạy ba lạy và nói “xin các bác, các anh chị, đại chúng, hôm nay xin đem tất cả công đức hồi hướng về cho người này, người này, người này…”. Các bác không thể tưởng tượng được công đức của 1000 hay 1500 người cùng tu, cùng cộng hưởng hồi hướng về cho những người đó. Có khi người mà ta muốn hồi hướng công đức cho, đang bệnh, đang gặp khó khăn hay có chuyện gì rắc rối; sự hồi hướng sẽ làm cho người đó được hoàn toàn giải trừ nghiệp chướng, gút thắt. Sức mạnh tập thể tu hành không thể tưởng tượng được. Sức mạnh cộng hưởng là gì?

Công đức một người tu là  một. Công đức hai người ta không phải là 1 + 1, mà thành 100; công đức của 1000 người tu sẽ trở thành vô lượng. Do đó từ xưa đến nay, chuyện cúng dường trai tăng hay cúng dường hộ pháp, cúng dường hộ thất, cúng dường đại chúng, cúng dường pháp hội, cúng dường phần ăn, là  một hạnh cực kỳ quan trọng để giúp hồi hướng công đức cho tất cả những người đang gặp khó khăn, kể cả các vong linh.

Món ăn không phải có giá trị một đồng, hai đồng hay mười đồng. Giá trị của phần ăn đó không những tăng theo tấm lòng của mình, mà cả số người cúng dường, khiến món ăn đó càng  ngày càng có giá trị không thể tưởng tượng được. Không phải là món ăn ra chợ mua có giá trị $5.00, vậy tôi cúng dường $5.00. Nhiều khi giá trị của phần ăn đó không thể đếm biết được, vì ta cúng dường từ cõi lòng của mình. Nếu nhiều người cúng dường một món thì món đó càng có giá trị không thể đếm biết được, vì càng có giá trị.

Thầy rất tán thán công hạnh cúng dường trai tăng, cúng dường đại chúng vì đó là một trong những cúng dường rất kỳ cao. Thầy xin tùy hỷ. Tất cả bác  nào cúng dường cho pháp hội, cúng dường cho đại chúng những bữa ăn như vậy, thì đó là công đức vô lượng vô biên.

Xin tùy hỷ với các bác.

Bản Chất Của Người Xuất Gia Đoản Kỳ

Khi xuất gia đoản kỳ, là xuất gia trong một thời gian ngắn, do đó, nhiều công hạnh mình phải thực tập ngay, không đắn đo chờ đợi:

  1. Đừng sợ khổ: Bản chất tu hành là lội ngược dòng đời, ngược dòng dục vọng, do vậy ta phải tập đức kham nhẫn, xuyên suốt mọi thử thách. Khi xuất gia, cam tâm chịu cực chịu khổ; ăn không ngon, chẳng buồn; ngủ không đủ, chẳng than; nằm không êm, chẳng phiền; thực tập liên tục cũng chẳng chán. Đừng đòi nghỉ ngơi, nhàn nhã. Đừng cầu tiện nghi, dễ chịu. Cổ nhân nói; “Chịu khổ thì hết khổ; hưởng phước thì tiêu phước.”
  2. Đừng sợ khó: Đường tu hành giống đường lên núi, càng lên cao càng dốc, mỗi bước mỗi bước cần nỗ lực, chẳng phải thong dong dễ dàng; do vậy ta phải tập đức tinh tấn, đầy sức lực để không ngừng vươn lên. Ngồi xếp bằng, khó? Càng nỗ lực thư giãn, khắc phục. Lạy quá nhiều, khó? Càng nỗ lực tích lũy, khắc phục. Ăn một buổi, khó? Càng nỗ lực hàm dưỡng, khắc phục. Cổ nhân nói: “Khó vì lòng người ngại núi, e sông.”
  3. Đừng sợ kẹt: Đường đời có lúc thuận, dễ, có lúc nghịch, khó. Đường đạo cũng có khi thuận khi nghịch, lúc tiến lúc lùi. Đôi lúc bế tắc, tới không xong, thối chẳng đặng. Càng tính toán thì càng kẹt, càng ích kỷ, càng trắc trở, càng tự lợi, càng khốn đốn. Buông tay, thư giãn, nhẹ nhàng chấp nhận thì đạo lộ hanh thông. Bỏ ngã, vị tha, tận tâm phục vụ thì vạn ngõ thông thoáng. Cổ nhân nói: “Tâm vô tà, vạn nẻo thông.”

Thế nào là xuất gia vị tha?

image_lay2

Thưa các bác, các anh chị thân mến,

Xuất gia là một trong những hạnh cao quý nhất của nhà Phật. Đức Phật dạy rằng xuất gia có 3 loại: xuất thế tục gia, xuất phiền não gia, xuất tam giới gia.

  • Xuất thế tục gia tức là rời khỏi nhà thế tục, xuống tóc, làm người tu sĩ.
  • Xuất phiền não gia tức là rời khỏi nhà phiền não, những tâm tình buồn sầu, khó chịu, tiêu cực cho tới những tâm thái chấp trước, thành kiến, cho tới những bóng tối trong tâm tư do bản ngã tạo ra.
  • Xuất tam giới gia tức là rời khỏi cõi dục giới, sắc giới, và vô sắc giới. Ba cõi này tượng trưng cho tất cả chúng sinh trong điạ ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tu la, người và chư thiên. Thông thường chỉ có các bậc La Hán mới thật sự là xuất tam giới gia.

Những bậc xuất gia đều tuần tự trải qua 2 giai đoạn: giai đoạn nhận thọ giới Sa di (hoặc Sa di ni) tức là 10 giới tập sự là người tu chân chính. Sau đó nhận thọ giới Tỳ kheo (hoặc Tỳ kheo ni) gồm có 250 giới (hoặc 348 giới cho ni) để chính thức làm người tu thoát tục. Bất luận là Sa di hay Tỳ kheo, trọng tâm của đời sống tu hành là ở chỗ thoát tục như nhiên, chẳng nhiễm bụi trần. Bởi thế xuất gia là một hạnh cực kỳ cao quý và xứng đáng để chúng ta khen ngợi, cúng dường, ủng hộ, bảo vệ, và duy trì.

Sau này khi Phật chế định ra pháp tu thọ trì 8 giới, ngài dạy rằng nếu ai chỉ giữ 8 giới trong một ngày một đêm thì công đức của họ sẽ ngang bằng với Phật. Đó là một suy nghĩ cực kỳ sâu sắc về tác dụng của sự trì giữ giới luật trên tâm thức ta. Rằng, con đường giải thoát sinh tử qua công hạnh giới luật xuất gia là con đường đem tới vô lượng những phước báu, điều lành và may mắn; Rằng: nếu ta chỉ giữ 8 giới mà công đức đã vô lượng như vậy, hà huống là giữ 10 giới, hoặc hơn nữa là 250 giới.

Với sự suy nghĩ như vậy về tác dụng của giới luật, nhiều nước theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy, nhất là Lào, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, (và gần đây là Đài Loan) đã phổ biến một lối tu, gọi là tu đoản kỳ. Đây tức là lối tu ngắn hạn, trong vòng vài ngày cho tới vài tuần hoặc vài tháng. Mục đích và động cơ phía sau lối tu này cũng bắt đầu trở nên phong phú theo dòng lịch sử:

  • Tu đoản kỳ là một cách tạo công đức cho bản thân: quá khứ ta tạo nhiều tội lỗi, nay xuất gia trong 7 ngày để sám hối, tiêu trừ hết mọi tội lỗi đã tạo trong kiếp này.
  • Tu đoản kỳ là cách để ta bắt đầu một giai đoạn mới: trước đó ta gặp quá nhiều nghịch duyên, chướng duyên, đau khổ, chuyện buồn… nên nay xuất gia 7 ngày để sám hối, đồng thời đánh dấu một sự thay đổi trong quan điểm, cái nhìn, và một lối sống mới.
  • Tu đoản kỳ là cách báo hiếu cha mẹ: thí dụ như ta phải lập gia đình, không còn cơ hội để ở bên cạnh cha mẹ nữa thì ta xuất gia 7 ngày để hồi hướng công đức về cho cha mẹ.
  • Tu đoản kỳ là cách trả ơn Phật: thí dụ như ta bịnh nặng, cầu xin Phật trợ giúp, nay bịnh lành ta xuất gia 7 ngày trả ơn Phật. Hoặc cha mẹ ta bịnh này, ta khấn nguyện cho họ lành bịnh, nay họ lành, ta xuất gia để trả ơn Phật giúp.
  • Tu đoản kỳ là cách trả nợ: có khi đó là nợ máu, nợ tình, nợ duyên. Tu đoản kỳ là để tạo công đức trả cho chủ nợ những món nợ rất khó trả đó.
  • Tu đoản kỳ là cách để ta thử xem đời sống thanh tịnh có thích hợp cho ta xuất gia suốt đời hay không.

Đó là những động cơ và mục đích của việc tu đoản kỳ, tạo thành một tập tục đáng quý, duy trì và truyền lại trong nhiều thế hệ. Đối với xã hội đời nay, xuất gia đoản kỳ là một cách thức rất thực tế để giúp người tại gia hiểu biết bản chất con đường xuất gia thoát tục. Một khi người tại gia đã ‘thử’ xuất gia đoản kỳ rồi thì chắc chắn họ sẽ tăng trưởng niềm tin và càng thêm ủng hộ và kính trọng Tam Bảo.

Trong kỳ đại hội Tình Thương sắp tới vào tháng 8, chúng ta cũng sẽ tổ chức một chương trình xuất gia đoản kỳ cho cả nam lẫn nữ. Mục đích của chương trình là giúp phát triển một truyền thống đẹp đẽ, khiến Tam Bảo thêm vững mạnh, và người tu có cơ hội ngắn hạn chân tu con đường xuất thế thoát tục. Chương trình tu đoản kỳ này có tên là: Xuất Gia Vị Tha, nghĩa là tập xuất gia trong 10 ngày, với yêu cầu những ai xuất gia thì tu ‘dùm’ cho một (hoặc nhiều) người thân thương nào đó. Người thân của ta có thể là vì bịnh hoạn, tuổi tác, công việc, nhân duyên nào đó, nên không thể tu hành; do đó ta tu ‘dùm’ họ. Đương nhiên là nếu ta muốn tu để giảm thiểu nghiệp chướng cho chính bản thân thì điều đó cũng tốt lắm. Chỉ khi ta tu ‘dùm’ thì ta mới sinh khởi được tình thương chân thật, và làm cho cuộc tu trở nên biểu hiện của sự thực hành đạo bồ tát vị tha.

Thưa các bác, các anh chị,

Như nói trên, xuất gia đoản kỳ thật sự là một công hạnh cao quý và đẹp đẽ vô cùng. Chúng ta muốn khen ngợi và khuyến khích những ai có tâm muốn thực hành hạnh này, nhất là trong thời ky mạt pháp và trong giai đoạn khó khăn của xã hội. Nếu tâm thức của nhiều người cùng xuất gia vị tha thì sự cộng hưởng của những tâm thức ấy sẽ là sức mạnh vô song; chắc chắn sức mạnh ấy sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc và những cải biến tốt đẹp cho xã hội mà chúng ta đang sống.

Xin các bác, các anh chị cùng nhau chia sẻ về ý nghĩa của xuất gia vị tha này, cũng như khuyến khích, những ai có duyên có thể xuất gia đoản kỳ.

Thân mến,

Thầy Hằng Trường