Giải thích Mạn Đà La

Thầy Thích Hằng Trường giảng, Xuân Dung ghi lại 

Xin chào các bác và các anh chị,

Hôm nay thầy xin nói về đề tài Mạn Đà La. Đây chỉ là phần nhỏ để chúng ta hiểu sơ sơ về mạn đà la.

Chữ mạn đà la ngày xưa được dùng để nói về môt đàn tràng. Đàn là hình vuông, tràng là tràng sở hay trường sở, là một chỗ. Đàn tràng nghĩa là một chỗ vuông vức. Vuông vức là gì? Nghĩa là tâm hội tụ ở trong đó. Ngày xưa mạn đà là chỉ là một hình vẽ, rồi ta chuyên tâm, chú tâm vào hình vẽ đó. Sau này từ từ phát triển ra thành một cái tháp ba chiều. Vẫn là hình vẽ nhưng có thêm đồ đạc, thành ba chiều. Mạn đà la này được người Tây Tạng làm trên cát; nhưng nguời Nhật thì vẽ rất to, có khi bằng cả một bức tường hoặc nằm trên mặt đất rất to. Điều này cho thấy mạn đà la có nhiều hình thức khác nhau. Mạn đa là ba chiều, thí dụ về pháp khí có ngài Quan Âm bồ tát cầm tịnh bình. Tịnh bình cũng là một loại mạn đà la. Mạn đà la này nói lên sự nghiệp của ngài. Gọi là yết ma. Sự nghiệp ngài làm gói ghém trong đó tất cả những gì ngài làm. Có khi mạn đà la là một bức tranh vẽ hình ngài, sự nghiệp của ngài hay những chuyện mà ngài làm. Thành ra các bác thấy hình ngài đứng trên đầu rồng, chứng tỏ ngài đã hoàn toàn ngự trị sự giận dữ. Rồng tượng trưng cho tánh nóng nẩy, thích giận, thích lẫy, hay vung vẩy bên này, đá bên kia, không ai kiểm soát được. Khi ngồi trước hình tượng Quan Âm như vậy, chúng ta hãy nhớ đi ra khỏi sự nóng giận, thích giận thích lẫy, những cơn giận không thể đoán trước được (unpredictable).

Mạn đà la có nhiều loại, nhiều ý nghĩa. Có những cái mà người Nhật, hay Trung Hoa, Tây Tạng vẽ chữ Phạn để khi nhìn ta sẽ chuyên chú vào chữ Phạn đó, từ đó ta tìm ra được chơn tâm của mình. Chữ Phạn đó là chỗ để tập trung. Các bác thấy phía sau thầy có chữ Bi. Đây cũng là một mạn đà la. Là chữ mà người ta tập trung vào đó để đạt tới trạng thái tâm hoàn toàn trống rỗng. Cho nên mạn đà la ở mọi hình dạng, ở bất kỳ hình thức nào mà khiến tâm mình chuyên chú và xuyên qua ngũ ấm (sắc thọ tưởng hành thức).

Sắc: là thân xác. Con người mình lúc nào cũng bị kẹt trong thân xác. Thí dụ: lúc nào cũng nghĩ tới ăn uống, bỏ không biết bao nhiêu thì giờ để nấu nướng ngõ hầu ăn cho ngon.

Thọ: là cảm xúc, cảm tình, cảm tưởng. Nhiều khi lúc nào ta cũng thích cảm xúc, là những cảm giác vui, kích thích.

Tưởng: là sự suy nghĩ, cảm tưởng, quan niệm, là những suy nghĩ trong đầu mình.

Hành: là những tập quán, những thói quen hàng ngày của mình. Tại sao ta làm việc này mà không làm việc kia, tại sao ta nghĩ chuyện này mà không nghĩ chuyện kia; tại sao lúc trẻ ta có những thói quen này, nhưng khi về già lại có những thói quen kia.

Thức: là khả năng nhận tri, nhận thức. Khả năng con mắt mình nhìn biết, lỗ mũi ngửi, lưỡi nếm được mà tại sao con mắt mình không thể nếm, lưỡi không thể nhìn, mũi không thể nghe, tai không rờ được? Không, mỗi giác quan có một công năng. Thức là sự nhận biết.

Mạn đà la giúp ta đi xuyên qua năm tầng đó (sắc thọ tưởng hành thức) để tới được chỗ gọi là tự tánh quang minh, là sự sáng suốt nội tại. Sự sáng suốt này lúc nào cũng hiển hiện trong tai mắt mũi lưỡi thân, trong tất cả mọi chuyện ta tiếp xúc, nhưng ta lại không để ý. Cho nên lúc nào ta cũng bị kẹt trong tư tưởng, trong cảm xúc, trong thân xác mà không nhớ tới. Mạn đà la là chỗ tập trung tinh thần, tinh lực để xuyên phá qua năm tầng đó.

Khi ta xuyên phá qua, đức Phật nói “khi con xuyên phá qua năm bức màn đó, con sẽ gặp ta và ta đã phát nguyện là sẽ gặp con ở đó”. Mạn đà la là chỗ đức Phật ngự trị, đức Phật hiện ra. Đức Phật không có ngũ ấm. Ngài không có sắc thọ tưởng hành thức. Ngài đã ra ngoài và đã giải thoát rồi. Ngoài ra đức Phật cũng không ở trong ngũ đại nữa, nhưng ngài dùng phương thức này để cho mình biết rằng nếu ta đi xuyên qua ngũ ấm hay ngũ đại thì ngài sẽ ở đó. Ngài ở đó tức là ta đã xuyên qua. Ta đã xuyên qua tức là ngài ở đó. Hai việc này là một.

Nếu mình chưa xuyên qua, ngài sẽ nói “không can chi, ta sẽ hiển hiện, ta sẽ phóng quang. Mạn đà la là chỗ mình sẽ tới và mình sẽ cảm nhận được hào quang của chư Phật. Các bác có thể hỏi: ”Thưa thầy, hào quang nằm đâu sao con không thấy?” Thưa bác, là sự sáng suốt nội tại. Thí dụ ta chấp vào chuyện ăn uống, khi ngồi trong mạn đà la tự nhiên sẽ nhận ra là ta ham ăn lắm, hãy bỏ đi. Tư tưởng biết mình ham ăn và phải bỏ đi. Tư tưởng đó chính là Phật. Mình đã thấy vị Phật của mình rồi, thưa các bác. Hoặc lúc nào mình cũng ham thích sự kích thích (excitement), lúc nào cũng nghĩ ta phải làm việc này, làm việc kia. Bây giờ ngồi trong mạn đà la trì chú, tự nhiên ta nhận ra là mình có một điểm mù lúc nào cũng theo đuổi sự kích thích. Sự nhận biết đó không phải là thức mà là sự giác ngộ. Giác ngộ chính là vị Phật mà chúng ta phải gặp trong mạn đà la. Vị Phật ở đây không còn là một hình tướng mà là sự sáng suốt, nhận ra điểm mù, thấy được mình.

Tại sao trong mạn đà la hay tu tập mạn đà la có sự hiện diện của chư Phật? Bởi vì mỗi người vô ngồi sẽ cảm nhận được sự sáng suốt của mình, thấy được cái giới hạn, sự hạn hẹp của mình, và ra khỏi sự hạn hẹp đó.

Đó là ý nghĩa triết học, triết lý cũng như phương thức của triết lý tu hành của mạn đà la. Khi vào trong mạn đà la Di Đà, chữ A Di Đà có nghĩa là vô lượng quang, có nghĩa là sức mạnh hào quang trong tự tâm mình sẽ hiển hiện ra, sự sáng suốt trong nội tâm mình sẽ hiển hiện ra, vô lượng quang minh tức A Di Đà sẽ hiện ra trong ta. Phật là giác ngộ, cho nên ta sẽ giác, sẽ thấy, sẽ nhận ra hào quang ở trong tâm của mình khi ta vào trong mạn đà la Di Đà hay đàn tràng Di Đà. Đó là sự hy vọng cũng như là triết lý hay cốt lõi của tu mạn đà la: nhận diện được bản năng thành Phật của mình ngay tại đây, ngay bây giờ.

Do đó, khi vào tu tập, các bác hãy nhớ lắng lòng xuống, hãy trì chú để tâm chúng ta được nhẹ nhàng ngõ hầu nhận tri được ông Phật nằm ngay trong tâm mình, chớ không phải ngoài xa. Ông Phật đó không thuộc về ngũ ấm. Ông Phật đó, chúng ta gọi là ông Phật giải thoát, nằm ngay đây. Nhìn vào mạn đà la, các bác sẽ thấy ông Phật đó nằm ở vòng tròn trong cùng. Bên ngoài là năm lớp sắc thọ tưởng hành thức, nhưng bên trong có một vòng tròn tượng trưng nói rằng ông Phật lúc nào cũng có trong ta, chúng ta phải nhìn cho đúng chỗ, phải mở tâm ra, để ông Phật không còn bị cột trói trong năm vòng ngũ ấm nữa.

Hy vọng các bác sẽ thích thú (enjoy) với mạn đà la Di Đà kỳ này. Cám ơn các bác đã lắng nghe.

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply