Trì chú đại bị có cần hiểu nghĩa không?

Thầy Thích Hằng Trường giảng, Xuân Dung ghi lại

Các bác có câu hỏi gì về phương thức tu trì hay tụng niệm không?

Đại chúng: Cám ơn thầy hôm nay đã giúp cho đại chúng hiểu thêm về chú đại bi. Con có câu hỏi sau đây. Có một số người nói rằng khi chúng ta tụng chú đại bi, thực sự không cần phải biết ý nghĩa vì đó là mật khẩu của các đức Phật. Hôm nay thầy lại giảng là ta nên cần biết về ý nghĩa, như vậy khi tụng chú mới linh nghiệm.

Đây là hai cái nhìn khác nhau mà con thấy cái nhìn của thầy có vẻ có lý hơn cái nhìn kia. Nhưng thực sự ra những người không biết gì về ý nghĩa của chú đại bi, họ tụng chú đại bi theo kiểu kia, tức là không cần biết, thì có linh nghiệm hơn không hay chỉ cần đọc nhiều cũng tốt?

Thầy: Chị tên gì vậy chị?

Đại chúng: Tên Vân ạ.

Thầy: Có bao nhiêu bác hứng thú về câu hỏi này? Giơ tay lên? Oah, như vậy là chị Vân hay quá, biết đại chúng muốn gì. Thầy xin nói để các bác nghe nha.

Không hề có sự đối nghịch nhau. Đây:

Con nguời chúng ta nếu kể ra từ đầu thì có ba bộ phận:

Bộ phận đầu tiên là tiền lý trí (pre-rational), tức là mình chưa suy nghĩ gì về lý trí cả. Mình không suy nghĩ về giận, tham, sân, đủ thứ chuyện.

Bộ phận thứ nhì là rational: đây là phần lý trí, mình suy nghĩ, suy tư. Mình ngồi đây mà  nghĩ tới tương lai, tới quá khứ được (hypothetical thinking). Suy ra từ điểm này ra điểm nọ. Rất đặc biệt. Con nít một hai tuổi không làm được, không thể nghĩ tới tương lai, tới quá khứ. Tới 6 tuổi mới bắt đầu biết nghĩ, lý trí càng lúc càng mạnh ra. Sự phát triển này rất quan trọng.

Tới một lúc nào đó, chúng ta mới phát triển tới siêu lý trí (trans-rational), siêu việt ra ngoài lý trí.

Khi các bác ngồi thiền, đi tu học, học chữ, học nghĩa, bất kỳ chữ nghĩa nào tại trung học hay  đại học. Thực sự ra là chúng ta đang học lý trí. Không ai dạy chi khác cả. Nếu chúng ta không   học gì cả, sống bình thường như loài vật, chúng ta sẽ sống theo thú tính, chúng ta sẽ giận dữ, đủ thứ v.v…

Khi thiền là mình phát triển siêu lý trí. Thiền định là một môn học, trạng thái siêu lý trí được gọi là tâm thức mà lý trí sẽ đạt được. Khi đi học, các bác ở trong vùng lý trí. Khi bác đi vào sự huấn luyện của nhà thiền (chốn thiền môn), họ không muốn mình hiểu biết cái gì cả, bởi nếu hiểu, mình sẽ bị kẹt trong vùng ngôn từ của lý trí.

Đức bồ đề Đạt Ma có một câu rất hay. Đó là “giáo ngoại biệt truyền”. Giáo ngoại là bên ngoài   ý nghĩa của đạo Phật, biệt truyền là đặc biệt truyền lại, là mình transmit beyond verbal   communication. Còn “ngôn ngữ đạo đoạn”: ngôn ngữ đạo là con đường của ngôn từ, đoạn là   hết, ngừng lại. “Tâm thành xứ diệt”. Đây là chuyện của thiền.

Như vậy người tu thiền làm sao bắt đi học ý nghĩa của chú đại bi cho được? Nhưng hãy coi   thử chú đại bi thuộc thiền hay không? Không, chú đại bi thuộc về Chơn Ngôn tông, Mật tông, Hoa Nghiêm tông. Chú đại bi không phải về thiền.

Thầy có phải là thiền sư không, các bác? Không. Thầy không phải là Zen master, chỉ là bần   tăng thôi Bần tăng cũng không phải phải, không phải trái, không trên không dưới.

Trong thiền môn, thầy xin trình bày thêm để chị Vân rõ, ngày xưa, khi thầy còn ở trong thiền viện hay tu viện mà thầy ở, có tên là Như Lai tự. Như Lai tự này không dính dáng gì tới Như Lai thời nay, trên chùa Vạn Phật. Mỗi năm, trong chùa này có 3 tuần thiền thất. Trong ba tuần này các bác biết làm gì không? Mình ngồi thiền từ 3 giờ sáng cho tới 12 giờ   đêm. Ngồi 20 phút là mình phải vận động, đi bộ hay exercise gì đó, rồi lại ngồi tiếp 20 phút, rồi lại đứng lên vận động. Cả một tiến trình như vậy liên tục trong 21 ngày, mỗi ngày ngủ 3 tiếng thôi. Nếu ngồi thiền mà ngủ gục là bị đập. Tuyệt đối không coi sách vở, không đọc chữ, không làm bất kỳ chuyện gì, chỉ ngồi tham thiền rồi đứng lên, liên tục như vậy.

Nhưng ba tuần lại không thấm thía gì cả. Thầy từng đi thăm một chỗ, mà các bác không thể   tưởng tượng được, tên là Cựu Kim Sơn. Đây là Cựu Kim Sơn ở bên Tàu, không phải ở Việt Nam, hay bên Mỹ. Chùa Kim Sơn này sản xuất ra ông Kim Sơn hoạt Phật. Ông hoạt Phật này   là thiệt, bác bệnh cỡ nào, ông chỉ cà cà đất, đưa cho bác uống, hay đập đập lên đầu. Ông giỏi   về chữa trị các bệnh. Nhưng người ta không biết chùa Kim Sơn này còn sản xuất ra nhiều   vị thiền sư, bởi một lần họ ngồi thiền không phải 21 ngày, mà một lần ngồi là ba tháng. Ba tháng một lần liên tục. Một năm 12 tháng, có 4 khóa thiền, nên họ ngồi luôn một năm.

Thiền thất ở Kim Sơn nổi tiếng cực kỳ bởi những thời khóa tu thiền đó. Sau này có rất nhiều. Sau này không phải thời bây giờ mà là thời nhà Thanh, nhà Minh, có rất nhiều thiền viện cũng đặt thời khóa thiền là cả một năm luôn. Bác vô đó ngồi từ sáng tới tối, có một cây hương thay cho đồng hồ. Một cây nhang như vậy là hai tiếng. Một ngày họ làm khoảng 5, 6 cây nhang. Điều này cho thấy có những người tu là tu kinh khiếp lắm.

Trong lúc tu hành như vậy, họ chủ trương không đọc chữ nghĩa. Truyền thống này từ từ  truyền lan sang những người đọc chú, đọc kinh này nọ đến độ có những người đang đọc kinh, ông thiền sư tới lấy kinh đốt đi. Trong lịch sử có ghi lại có ông thiền sư vì trời nóng, đã xé kinh ra làm củi lửa để đốt.

Những câu chuyện đó ảnh hưởng vào tâm thức những người tu bình thường như chúng ta.   Chúng ta không phải là thiền sư và chúng ta cũng không phải tu thiền. Mình tu gì? Mình tu   đi chùa, tu niệm Phật, tu trì chú, tu đủ thứ, gọi là tạp tu. Cho nên, nếu bây giờ nói bác cứ trì   chú đại bi chẳng cần hiểu ý nghĩa, hoàn toàn đúng cho các vị thiền sư, nhưng không hoàn   toàn đúng cho chúng mình, những người tạp tu. Các bác có đồng ý không?

Nhưng, nếu bây giờ bác nói:”Thưa thầy, con muốn nhập thất và con muốn chuyên tu, tu đại   bi thôi”. Lúc đó bác sẽ vào thất chuyên tu, lúc đó bác sẽ chỉ trì tụng mà thôi. Trì tụng chú đại   bi không phải chỉ bằng miệng mà phải bằng tâm. Bác ngồi nhắm mắt lại và tụng. Chỗ bác   chú ý (focus) có thể ở trên cổ, trên ngực, trên bụng, tùy các bác chú ý ở chỗ nào. Nhưng nếu các bác chú ý ở điểm đó thì bác có cần hiểu ý nghĩa không? Không, các bác không cần tìm hiểu ý nghĩa, không nghiên cứu ý nghĩa nữa. Không đọc, không nghiên cứu ý nghĩa làm gì nữa. Tức là những chuyện bác nghiên cứu đã qua rồi, đã hiểu rồi, bây giờ bác vô thất. Không bao giờ bác nhập thất mà không hiểu ý nghĩa, hay không hiểu những chuyện mình làm.

Lý do mà bây giờ thầy bắt đầu giảng vì bây giờ có nhiều đệ tử của thầy nhập thất, có người   bảy ngày, có người 10 người, nhịp độ nhập thất càng ngày càng nhiều. Năm nay mình bắt đầu có đơn xin nhập thất. Tuần rồi, thầy có hai người đi nhập thất 7 ngày, hai cô. Trước đó cũng có nữa. Khi nhập thất như vậy, họ làm gì? Họ chuyên tu thôi. Họ không được cầm sách đọc, không được nói chuyện, mà chỉ lo chuyên tu thôi. Có một lý do rất quan trọng là chúng ta nên dung hòa hai tâm thái: tâm thái biết ý nghĩa trước khi tu và không nên lải nhải ý nghĩa lúc tu trì. Đuợc vậy, chúng ta sẽ hiểu lý do tại sao người ta tu, hồi xưa tại sao tu như vậy.

Bây giờ thầy muốn có một ghi chú (footnote) nhỏ để các bác biết: nếu bác muốn phát triển   siêu lý trí, đối với tất cả các phương thức của thiền sư trong quá khứ, hiện tại và cả vị lai, là   họ phải đè xuống (suppress) lý trí, để không cho trí óc tìm hiểu chuyện này chuyện nọ, bằng   cách là họ bỏ hết tất cả mọi thứ.

Cho nên, chúng ta thường nói “nhất trần bất nhiễm”, tức là một chút xíu chuyện cũng không   nghĩ tới mà chỉ chuyên chú vào đối tượng thiền mà thôi. Đó là các ngày xưa họ hay làm:   suppress rationality, thì siêu lý trí transrationality mới mở ra được.

Đó là lúc tu, còn lúc không tu, khi chúng ta nói chuyện với nhau thì lại khác. Đó là lý do mà khi nãy mình nói lúc mình xuất tục hay tự tu một mình thì không nên lải nhải ý nghĩa; nhưng khi nhập thế, mình ra ngoài tu với người khác, thì mình nên biết ý nghĩa để nói cho người ta hiểu. Vấn đề khó ở chỗ là khi nhập thế để nói chuyện thì mình lại không hiểu, mình hỗn độn giữa nhập thế và xuất tục, giữa cái tự tu và tu với người.

Thầy tin rằng thái độ ngày xưa của các thiền sư rất đúng đắn: khi tu, không biết gì cả. Nhưng điều này chỉ đúng ở phần tự tu thôi, phần mình cột tâm lại; nhưng với phần chia sẻ lại không đúng. Đồng thời, tất cả mọi chuyện, dù siêu lý trí đi chăng nữa, nhưng lúc nào lý trí mình cũng có thể tạo triết lý và tìm được ý nghĩa. Bởi vì con người là người tạo ra ý nghĩa (meaning making being). Khả năng tạo ra ý nghĩa này là khả năng độc đáo của con người, và mình tạo ra ý nghĩa đó. Do đó being là con người mình hay là meaning-making human, mình tạo ý nghĩa. Ý nghĩa tự nó không có ý nghĩa gì cả, nhưng homon sapien của mình sẽ không tồn tại nếu mình không tạo ra ý nghĩa. Loài vật đâu tạo ra ý nghĩa.

Câu hỏi của chị Vân độc đáo bởi vì câu trả lời là Yes, khi tu mình đừng tìm hiểu ý nghĩa gì cả.   Nhưng khi mở mắt ra thì mình phải thông đạt mọi chuyện, và mình đem sự thông đạt đó vô   chuyện tu hành của mình, để khi chắp lại, mình không cần đọc ào ào ra. Mà mình đọc Nam   mô hắc ra đạt na da ra dạ ra, tâm mình thấm nhuần ý nghĩa tôi là vô tận tam bảo, tôi rất là   helpful và good. Mình phải hiểu và thông đạt điểm đó. Hoặc tôi là peaceful, giả dụ như vậy.   Hoặc khi mình đọc Nam mô A lợi da bà lô kiết đế, thước bát ra da, thì mình biết tôi là người   siêu việt ra, bản chất tôi là chơn tâm, siêu việt ra sanh tử luân hồi và tôi chính là người quán   tự tại (self present) ngay đây.

Khi hiểu như vậy, mình tụng một cách sung sướng vô cùng. Trường phái này rất quan trọng.   Thầy cần các bác đang tu chú đại bi hiểu như vậy. Bởi mình quá quen thuộc với việc cứ trì   tụng, trì tụng, mà quên không tìm hiểu ý nghĩa ra sao. Khi hiểu ý nghĩa rồi, các bác để một   thời gian cho lắng lòng lại, lắng nghe lại Bác chấp tay lại và tụng “Nam mô A lợi da bà lô kiết  đế, thước bát ra da” thì mình nhớ “À, cái đó, cái đó đó….” Ý nghĩa tôi là như vậy đó.

Sau khi hiểu rồi, mình ra ngoài chia sẻ với con cái, bạn bè. Tỷ dụ đứa con hỗn láo với mình,   mình sẽ nói sao? Mình phải nói mình là vô tận tam bảo. Nếu bác dụng ý nghĩa đó, từ từ sẽ   thấy con người mình thay đổi. Sao vậy? Vì mình nhận ra bản tánh con người mình là vô tận   tam bảo. Mình nhận ra được là mình có lòng thương, mình khai mở tự tánh của mình. Mỗi  lần động là mỗi lần khai mở, tiếp xúc với tất cả mọi người bằng một quan điểm khác.

Để kết thúc bài này, thầy xin nói để các bác nghe, điểm quan trọng nhất của bài này là sự   thay đổi tầm nhìn và tầng nhìn. Tầng nhìn trong chú đại bi thay đổi là mình hãy nhìn từ chỗ tự tánh nhìn ra, nhìn từ quan điểm của bậc giác ngộ mà nhìn ra. Đó là kết thúc của bài này, hãy nhìn từ quan điểm của bậc giác ngộ nhìn ra, đừng cho rằng mình cần phải tu thêm rồi mới giác ngộ. Không. Đó là quan điểm xưa. Quan điểm mới nói rằng yes, chỉ cần trở tay ra một chút, hãy nghĩ rằng mình có vô tận tình thương trong đây nè. Hãy nghĩ như vậy thì mình sẽ cho tình thương ra được. Chớ nếu mình nói không, tôi không thương ai cả, thì không đuợc. Hoặc nói rằng, chưa, tôi phải tu cho thành rồi mới cho tình thương. Lâu quá. Sợ rằng khi bác tu thành rồi, thì con cái bác lại thành trước. và cái người mình thù lại thành trước. Thành ra bác phải nghĩ rằng mình có vô tận tình thương, hãy bày tỏ tình thương liền với người đó, tha cho người đó hay thương người đó đi.

Sự suy nghĩ đó là nền tảng của chú đại bi. Chú đại bi nói mình có sẵn tình thương vô tận mà   không chịu xử dụng, bây giờ hãy xử dụng nó đi. Đó là kết luận của bài này.

Các bác hãy chờ tới bài sau, bài sau còn hay hơn nữa vì bắt đầu đi sâu vô hơn cách chuyển   hóa từng phần từng phần một. Phần sau, câu 7, 8 đó.

2 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply