Ý nghĩa chú vãng sanh

Thầy Thích Hằng Trường giảng, Xuân Dung ghi lại 

Chào các bác và các anh chị,

Hôm nay thầy sẽ nói về những chú mà chúng ta sẽ học trong pháp hội Di Đà này.

Thứ nhất là chú vãng sinh. Tên thật của chú vãng sinh là: “Bạt nhất thiết nghiệp chuớng, đắc sinh tịnh độ đà là ni”. Chú vãng sinh này có thể coi là một chú dùng nhiều nhất và người Việt Nam chúng ta đi chùa, ai cũng học chú này. Thường chúng ta chỉ nghĩ chú này đọc lúc mình sắp chết hoặc đọc với hy vọng mình được vãng sinh. Điều này rất đúng. Nhưng công năng của chú này rất vĩ đại. Nó đã bạt nhất, bạt là đánh tan đi. Bạt ở đây có nghĩa là nhổ ra, vất ra, không còn nữa; đánh tan ra, nhổ phăng luôn tất cả nghiệp chướng. Nghiệp chướng là gì? Là những chuyện chúng ta làm lỡ, làm nhầm, những chuyện tầm bậy, bây giờ có hậu quả là gây trở ngại cho sự khai mở nội tâm mình. Thí dụ ta muốn vui nhưng cứ làm người khác khổ; sau khi làm khổ người rồi, bây giờ quả báo tới. Ta cần vui mà vui không tới, chỉ có khổ thôi. Đó gọi là nghiệp chướng. Ta đã làm những chuyện gây khổ cho người nên bây giờ muốn vui cũng không được. Do đó chúng ta “bạt nhất thiết nghiệp chướng” tức là dùng chú này làm mất đi chướng ngại đó.

Đắc sinh có hai ý nghĩa: một là ngay bây giờ, tuy chưa lên cực lạc, nhưng ta cũng cảm thấy có sự nhẹ nhàng, an lạc ngay trong tâm. Tịnh độ đó là ngay bây giờ, đắc sinh tịnh độ. Ý nghĩa thứ hai là ta chết rồi sẽ lên cõi trên, cõi cực lạc trên kia. Thành ra khi sống, ta cũng có tịnh độ ngay trong tâm an tịnh; khi chết sẽ tới chỗ được gọi là thế giới của đức Phật A Di Đà.

Ngoài tên đó Chú vãng sanh còn có tên là Chú khai triển quang minh nội tại, quang minh tự tánh, là Chú triển khai tự tánh quang minh. Tại sao chú đó có nhiều tên như vậy? Bởi vì thực sự chú đó do đức Phật A Di Đà nói, có đặc tính làm cho vô lượng quang minh của mình mở ra. Vô lượng quang minh là bản tánh của mình, lúc nào mình cũng có quang minh này, lúc nào cũng có sự sáng suốt đó. Có thể các bác sẽ hỏi:”Thưa thầy, sự sáng suốt đó ở đâu ra?” Sự sáng suốt đó nằm trong những chuyện như khi thấy một người nào, ta động lòng trắc ẩn, thương người đó. Đó là một tình thương mà mình cứ cho ra. Vì có lòng thương, sự trắc ẩn đó, ta cho ra, tình thương đó đúng là tình thương, và được gọi là vô lượng quang minh. Ta thấy có những người làm lỗi lầm, nhưng ta vẫn tha thứ cho họ. Ta tội nghiệp họ, chấp nhận họ nên tha thứ họ. Sự tha thứ đó cũng là vô lượng quang minh. Có người hỏi thầy: ”Thưa thầy, không biết vô lượng quang minh lan tỏa khắp mọi nơi có đúng không? ”Đúng, nhưng còn thêm một ý nghĩa. Chúng ta có một giới hạn, qua giới hạn đó thì gọi là vô lượng. Ta thương người đó, nhưng họ nói vài ba câu chọc phá khiến ta tức giận; ta không thương hoặc thương họ ít đi. Như vậy có nghĩa là tình thương của chúng ta không phải là tình thương vô điều kiện. Nếu họ cứ tiếp tục chọc phá, thách đố mình, tình thương của mình dành cho họ sẽ nhỏ thêm nữa, hay mình không nói chuyện với họ ba ngày, một tuần, hay bỏ đi. Tình thương của chúng ta càng ngày càng thu nhỏ lại và là tình thương có điều kiện; không thực sự là chúng ta có tình thương. Tình thương đó có hạn định và có thể nói thật ra đó là chúng ta thương chính mình, chẳng thương ai đâu.

Vô lượng quang là sao? Thí dụ bây giờ mình có tình thương, mình thương người đó. Họ nói nặng mình một câu, mình giận hai ba phút, xong làm lành lại. Chúng ta vượt qua giới hạn bản ngã của mình và chấp nhận họ. Nhưng hai ba ngày sau, họ lại nói ta một câu, thách đố ta. Bây giờ thay vì thu hẹp lại, ta đã chấp nhận họ, nên lòng ta lại mở ra thêm một chút nữa. Dù bị thách đố, ta vẫn cười vui, ôm họ vào lòng, lòng ta càng ngày càng mở lớn hơn. Việc cõi lòng không ngừng mở rộng đó được gọi là vô lượng, và tình thương được gọi là quang minh.

Nhiều người đã nghĩ rằng khi tu thì quang minh đó phải là ánh sáng. Không phải vậy. Thật ra quang minh đó là tình thương, là sự chấp nhận, là sự quan hoài, là sự ấm áp mà ta truyền cho người khác. Khi đọc chú vãng sinh, chúng ta phải đọc làm sao để càng đưa ra, càng lan tỏa ra sự ấm áp, càng gởi tới, càng làm cho những ngưòi xung quanh từ từ cảm nhận được tình thương và sự vô hạn định.

Đây không phải là một việc dễ nhưng cũng không khó. Không dễ bởi vì bản ngã ta cứng quá; không khó mà cũng không dễ bởi nhiều khi ta thấy mình có nhiều giới hạn. Biết vậy ta sẽ cố gắng cải thiện, thay đổi. Từ từ ta sẽ thấy cuộc đời mình thay đổi. Sự hiểu biết đó giúp chúng ta trì chú vãng sinh tới đâu,linh nghiệm tới đó, bởi chúng ta biết rằng chúng ta không mê tín. Chúng ta không phải cầu xin đi tới một chỗ nào mà nên có tịnh độ ngay từ bây giờ, để tới một chỗ tịnh độ mai sau khi mình chết. Bây giờ mỗi ngày chúng ta đang xây một tịnh độ trong lòng, mỗi ngày chúng ta có sự an lạc, nên sau khi chết, chúng ta sẽ tới cõi an lạc. 

Chú “bạt nhất thiết nghiệp chướng, đắc sinh tịnh độ” là một nhịp cầu để chúng ta qua. Mỗi câu chú chúng ta niệm là một tịnh độ đang hiện ra ngay đây.

Cám ơn các bác đã lắng nghe.

Lý tưởng xuất gia vị tha

1a_IMG_2930

Giới thiệu:

Vì sao chương trình xuất gia vị tha cần thiết trong thời nay

Xưa nay xuất gia là một công hạnh vĩ đại, cực đẹp, bởi đó là hạnh mà đức Phật Thích Ca xưa kia từng làm và khuyên chúng ta rán làm.

Xuất gia, theo Phật dạy, gồm có 3 loại:

Một, gọi là xuất thế tục gia, nghĩa là rời bỏ nhà trần tục, cạo đầu để suốt đời làm tăng ni.

Hai, tức là xuất phiền não gia, nghĩa là rời nhà phiền não, rời bỏ tất cả những chấp trước, ham muốn, xả bỏ thói ích kỷ, thói truy đuổi; thanh tịnh nội tâm để hết phiền não. Thông thường những ai xuất thế tục gia đều hướng tới thành tựu con đường xuất phiền não. Đương nhiên nhiều vị, tuy không xuất thế tục gia, nhưng đạo hạnh cao vút, vẫn ra khỏi nhà phiền não.

Ba, gọi là xuất tam giới gia, nghĩa là tu hành rốt ráo, rời khỏi sự dính mắc, chấp trước vào dục vọng (cõi dục), vào hình bóng tâm thức (cõi sắc) và vào tâm thức vi tế (cõi vô sắc). Trong nhà Phật, những vị la hán là những vị chân chính đã xuất nhà tam giới. Lý tưởng ra khỏi nhà tam giới là một trong những lý tưởng cao thượng nhất của người tu, vì lý tưởng này chính là động năng căn bản nhất khiến đức Phật bỏ ngai vàng, vào rừng tu đạo.

Khi Phật giáo đại thừa phát triển mạnh mẽ thì lý tưởng ra khỏi nhà tam giới lại được bổ túc bằng quan niệm trở lại tam giới hành đạo để độ chúng sinh.

Đó là lý tưởng của bồ tát, là những vị chủ trương con đường phục vụ, hóa độ, cảm động chúng sinh khiến chúng sinh xây dựng một cuộc sống hướng thượng, tích cực, khai mở, đầy lợi ích. Trong kinh Hoa Nghiêm, lý tưởng này thường được hình dung trong câu chuyện của một vị bồ tát làm người lái đò. Ngài không ngừng chèo đò đưa người từ bờ này tới bờ bên kia, không ngừng nghỉ, không mỏi mệt. Ngài không hề nghĩ tới mình sẽ được ích gì, sẽ gặt được lợi gì, mà chỉ nghĩ làm sao khiến người người được an ổn, tới được bờ bên kia.

Tinh thần của vị lái đò, cũng là tinh thần chủ chốt của đạo bồ tát, là tinh thần vị tha. Phát huy đạo bồ tát là phát huy tâm thức vị tha, tâm thức phục vụ.

Như thế để phát huy đạo bồ tát vào con đường xuất gia, môt dạng xuất gia gọi là đoản kỳ xuất gia ra đời.

Người tham gia đoản kỳ xuất gia thì cũng xuống tóc, tạm thời rời bỏ gia đình, tu hành thanh tịnh, trong một thời gian ngắn, như  một tuần, hai tuần, hoặc một tháng, hai tháng. Trong thời gian ngắn này, người xuất gia sẽ nỗ lực tu hành giùm một người khác, hoặc hồi hướng công đức tu hành tới một người, một nhóm người nào đó đang cần công đức. Có nghĩa là người tu xuất gia đoản kỳ thuần tuý tu hành chỉ vì người khác, chứ không tu cho mình, không cầu giải thoát cho riêng mình.

Ngoại trừ sự khác biệt về thời gian xuất gia, một điểm khác biệt chủ chốt giữa người trọn đời xuất gia và người đoản kỳ xuất gia là ở giới luật: người tu đoản kỳ chỉ thọ 10 giới của sa di và sa di ni, trong khi chư tỳ kheo thì thọ 250 giới, chư tỳ kheo ni thọ 348 giới. Lý do chương trình đoản kỳ xuất gia không truyền tỳ kheo, tì kheo ni giới, mà chỉ truyền sa di, sa di ni giới là vì với thời gian quá ngắn, sẽ rất khó để người tu có thể học hỏi, tham cứu, hiểu trọn vẹn thâm ý của giới luật. Lại nữa, vì đối tượng của chương trình đều là những vị còn có gia đình, còn có trọng trách đối với công việc và xã hội, nên chương trình xuất gia đoản kỳ chỉ muốn giới thiệu nội dung cao đẹp con đường xuất gia một cách tổng quát chứ không chú trọng đi vào chi tiết sâu sắc.

Thật vậy, trong khi tu đoản kỳ như vậy, người tu sẽ được hướng dẫn để cảm nhận được sự thù thắng của đường tu xuất thế, nét đẹp của người xuất gia, tinh thần cao thượng của đạo giải thoát, và sự thanh tịnh vô nhiễm của đời tịnh hạnh. Từ sự cảm nhận, tới thể nghiệm rồi cảm kích, sẽ làm người tu khởi tâm vô thượng bồ đề, khởi tâm hành đạo bồ tát. Đó chính là phương hướng tối quan trọng của chương trình đoản kỳ xuất gia.

Vì phương hướng phát triển tâm bồ tát của chương trình đoản kỳ xuất gia, nên hội Từ Bi Phụng Sự gọi chương trình này là chương trình Xuất Gia Vị Tha để nhấn mạnh vào tinh thần và nội dung rường cột của chương trình.

Tất cả những vị tham gia chương trình Xuất Gia Vị Tha được hội Từ Bi Phụng Sự tổ chức từ năm 2006 tới nay, ai ai cũng xuất gia với một tâm niệm tu giùm cho thân nhân, hoặc cho một người bạn, một người quen biết, một nhóm người đang gặp thiên tai nhân họa. Ai ai cũng có thể xuất gia vị tha. Tuy nhiên một khi đã phát tâm xuất gia, nhất định ta phải xuống tóc, thọ trì mười giới, giữ gìn mười giới, học hỏi về oai nghi và đức hạnh của người xuất gia, rồi phát tâm đem tinh hoa đạo Phật vào trong sinh hoạt hàng ngày. Như thế ta mới không phá hủy giới luật, không đắc tội với Phật tổ, và không uổng phí sự giúp đỡ của những vị hộ pháp, cư sĩ, tín đồ.

Có vậy thì bản chất vô cùng tích cực, hướng thiện của chương trình đoản kỳ xuất gia vị tha mới thật sự phát huy tác dụng và ảnh hưởng tốt tới gia đình, cộng đồng và mọi người trong mạng lưới nhân duyên của ta.


Đời của Phật: Tấm gương cầu đạo, độ sinh vĩ đại

Đức Phật Thích Ca khi chưa thành Phật là một thái tử, tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha), thuộc dòng Cồ Đàm (Gautama). Ngài sinh ra ở trong vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) thuộc thành Cà Tỳ La Vệ (Kapilavastu) thuộc Nepal ngày nay, vào khoảng năm 566 trước Công Nguyên. Gia đình của ngài là hoàng tộc dòng Thích Ca (Sakya); cha là vua Tịnh Phạn (Suddhodana), mẹ là hoàng hậu Ma Da (Maya). Sau khi sinh Tất Đạt Đa được bảy ngày, hoàng hậu qua đời.

Đến năm 16 tuổi thì thái tử Tất Đạt Đa kết hôn với công chúa Da Du Đà La (Yasodhara), nhưng mãi đến năm ngài 29 tuổi thì công chúa mới sinh ra một con trai là La Hầu La (Rahula). Đức vua Tịnh Phạn thường không muốn cho thái tử đi theo con đường tâm linh nên thường tạo vô số những điều kiện và hoàn cảnh hoan lạc để thái tử vui sống. Một lần nọ, thái tử trốn ra ngoài thành dạo chơi thì chứng kiến cảnh khổ của người già, người bịnh, người chết và cảnh thanh thoát tự tại của một vị tu sĩ. Thái tử động tâm và khởi ý muốn tầm sư học đạo để giải thoát khổ đau cho tất cả chúng sinh.

Chứng kiến cảnh già nua của một ông lão, hay cảnh đau đớn quằn quại của một người bịnh nặng, liệu chúng ta có động tâm, nghĩ tới cách giúp họ, hoặc nghĩ tới ý nghĩa cuộc đời và con đường giải thoát như thái tử Tất Đạt Đa chăng? Đến khi chứng kiến cái chết hiện ra trước mặt, như bây giờ chúng ta vẫn thường thấy cảnh chết chóc do thiên tai nhân họa, chiến tranh, được phát hình trên tivi, internet, liệu ta có xúc cảm như Phật khi xưa chăng? Do đó sự vĩ đại của thái tử Tất Đạt Đa là ở nơi cái nhìn thức tỉnh và khả năng làm theo cái nhìn ấy. Ngài thấy sự tự tại của người tu sĩ, rồi khởi ý quyết tâm, dũng cảm làm theo gương tốt ấy. Thật vĩ đại!

Sau khi Rahula sinh ra đời không bao lâu thì thái tử Tất Đạt Đa quyết định bỏ ngai vàng, rời nhà đi vào rừng học đạo. Theo truyền thống Ấn Độ Giáo, thì khổ hạnh là con đường tất yếu để giải thoát. Thái tử vì vậy theo học đạo với ngài Arada Kalama, Udraka Ramaputra, là những bậc đạo sư cao nhất Ấn Độ thời đó.

Rời bỏ ngai vàng, xả bỏ đời sống hưởng thụ hạnh phúc để tìm chân lý là một sự vĩ đại khác của thái tử Tất Đạt Đa. Nhất là khi vua cha và quần thần ai ai cũng cản trở không muốn cho ngài rời bỏ vinh hoa phú quý. Trong một bối cảnh xã hội phong kiến, ngài đi ngược lại truyền thống, chắc hẳn nội tâm ngài chịu nhiều áp lực, ắt phải chất chứa lắm suy tư mà chẳng biết cùng ai chia sẻ.

Sau khi khổ hạnh học đạo sáu năm mà vẫn không tìm được sự giác ngộ tối cao từ các đạo sư, thái tử đã tự mình tham thiền trong 49 ngày dưới cội bồ đề. Cuối cùng ngài thức tỉnh chân lý tối cao, giác ngộ nguồn cội sinh tử cũng như chân tánh bất nhị sẵn có trong tâm mỗi người. Ngài giác ngộ như vậy, gọi là thành Phật. Hiệu của ngài là Thích Ca Mâu Ni, nghĩa là bậc trí giả của dòng Thích Ca; cũng có nghĩa là năng nhân tịch mặc, tức là người có lòng nhân, lòng từ bi (năng nhân); đồng thời tịch tịnh không còn phiền não, không còn mọi khuấy động của dục vọng (tịch mặc).

Vượt trội hơn thầy mình, nhưng không hề kiêu ngạo vì biết chỗ thiếu sót của phương pháp thầy mình dạy: đó thật là một trí huệ siêu việt; chứng minh đức Cồ Đàm là một nhân cách vĩ đại.

Nhận ra thành kiến của những người bạn đồng tu về quan niệm khổ hạnh, rồi can đảm đi ngược lại với truyền thống khổ hạnh, nhận chịu sự ruồng rẫy của những người mình tin tưởng nhất mà vẫn không nản lòng, lay động tâm ý; ngược lại, tinh tấn thực hành theo cái thấy của mình: đây cũng là một thử thách vô cùng cam go.Thế mà đức Cồ Đàm vượt qua được thì thật là vĩ đại! Càng vĩ đại hơn là một khi ngài đã tìm ra chân lý, ngài lại vô cùng nhẹ nhàng, trở lại tiếp độ những người hiểu lầm mình.

Sau khi giác ngộ, đức Phật bắt đầu giai đoạn hoằng đạo trong 45 năm liên tục.

Ngài tạo ra một tăng đoàn, tức là nhóm người xuất gia, theo ngài học đạo. Tương truyền rằng những bậc xuất gia kề cận bên ngài hàng ngày có tới 1,250 vị tỳ kheo. Tỳ kheo tức là những vị đệ tử bỏ đời sống trần tục, xuất gia với Phật, rồi thọ 227 giới luật. Nhiều vị phụ nữ cũng được xuất gia, được truyền thọ 348 giới, gọi là tỳ kheo ni.

Thiết lập tăng đoàn, đặt định quy chế để tăng ni chung sống tu hành, giảng dạy không ngừng nghỉ; chẳng tích trữ vật chất mà chỉ chia sẻ trí huệ; chẳng tìm cầu ảnh hưởng quyền lực, chỉ chia sẻ tình thương; chẳng mong muốn danh vọng tiếng tăm, chỉ làm một tăng sĩ như những tăng sĩ khác trong tăng đoàn: đó là sự vĩ đại của đức Phật.

Năm 544 trước Công Nguyên, đức Phật nhập diệt ở Câu Thi Na (Kusinagara), hưởng thọ 80 tuổi. Sau khi nhục thân của Phật được hỏa táng, gọi là làm lễ trà tỳ, chúng đệ tử thu thập vô số xá lợi, là những viên ngọc do hỏa táng tạo thành, rồi đem phân phối cho khắp nơi.


Pháp của Phật: Pháp Tứ Diệu Đế

Trong 45 năm đức Phật dạy vô số giáo pháp, đi từ chỗ thiết thực giúp ta hiểu chân tướng của đau khổ, tới chân tướng của Phật tánh, tới chân tướng của vũ trụ chư thánh hiền, gọi là Pháp Giới.

Giáo pháp tối căn bản của đức Phật gọi là Tứ Thánh Đế, Tứ Diệu Đế, hay là bốn chân lý tuyệt diệu, đó là:

  1. Khổ đế: Tức là chân lý về nỗi khổ mà mỗi người chúng ta đang cảm nghiệm. Đó tức là hiện tượng sinh, lão, bịnh, tử, và tất cả những cảnh mà ta bất lực không thể thay đổi, như phải chia tay với người ta thương yêu, phải sống với người ta không hợp, hoặc không sao mãn ý điều mong ước. Vô số những sự việc mà ta bất lực, bất khả kháng, không thể tránh né, đều là tướng trạng của khổ.
  2. Tập đế: Tức là chân lý về nguồn gốc của nỗi khổ, cũng tức là dục vọng, lòng tham cầu truy đuổi dục vọng, lòng ích kỷ, sân hận, si mê. Cùng với lòng ham muốn là lòng sợ hãi, tức là gốc rễ tạo thành sự chấp trước và truy cầu cảm giác an toàn, bảo vệ một ảo ảnh về sự hiện hữu của chủ thể bản ngã.
  3. Diệt đế: Tức là chân lý về sự chấm dứt của đau khổ; rằng đau khổ, dù lớn tới đâu cũng có lúc chấm dứt. Nhưng sự chấm dứt của đau khổ chỉ tạm thời. Muốn vĩnh viễn chấm dứt đau khổ thì chỉ có cách là ta an trụ trong cõi Niết Bàn. Niết Bàn là nơi không còn dấu vết của bản ngã, nên chính là nơi cứu cánh an ổn, thanh tịnh, sung sướng chân thật.
  4. Đạo đế: Tức là chân lý về con đường dẫn tới Niết Bàn, chỗ diệt tận mọi khổ đau. Rằng, chúng ta có một con đường rõ ràng để ta tiến bước ra khỏi khổ đau, khỏi sinh tử luân hồi. Con đường đó đức Phật gọi là Bát Chánh Đạo, hay con đường có tám yếu tố chân chánh giải thoát. Tám yếu tố đó là: thấy chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, hành động chân chánh, làm nghề chân chánh, siêng năng chân chánh, nhớ niệm chân chánh, và thiền định chân chánh.

Tứ Diệu Đế là một phương pháp luận tuyệt diệu cho tất cả người tu, ở bất kỳ giai đoạn nào trên đường tu. Trong kinh Hoa Nghiêm có phẩm Tứ Thánh Đế cũng nói tới sự khác biệt của tên gọi Tứ Diệu Đế ở tất cả các cõi nước tuy khác nhau nhưng chân lý thì tương tự. Điểm then chốt trong giáo nghĩa Tứ Thánh Đế là:

  • Ta phải nhận diện ra sự bất lực và giới hạn của bản ngã đối với hiện tượng giới, hoặc với trần cảnh trong tâm thức (gọi là nhận tri khổ đế). Một khi ta sống và suy tư trong vòng luẩn quẩn của ảo ảnh bản ngã thì ta sẽ mãi mãi bất lực, không sao tự do tự tại, mà kết quả là ta sẽ mãi mãi bị cột trói trong vòng luân hồi sinh tử.
  • Ta cần thấu hiểu động cơ và xu hướng khiến chân tâm Phật tánh bị bóng đen che lấp, đè nặng khiến không sao lan tỏa ánh sáng quang minh trí huệ bản hữu (gọi là nhận tri tập đế). Bóng đen ấy tức là tánh tham lam, giận lẫy, cố chấp, đố kỵ, kiêu ngạo, sơ hãi, so sánh hơn thua, truy đuổi cảm giác an toàn… Tất cả đều là một phần của chương trình duy trì bóng đen của cái ‘tôi’, duy trì một thứ ảo tưởng rằng ‘tôi’ hiện hữu chắc thật. Mọi nỗ lực truy đuổi đều tăng trưởng thêm bóng tối (mà ta gọi là ấm hay uẩn) khiến ta càng lúc càng thêm nghiệp chướng che lấp trí huệ, càng tạo rối ren trong quan hệ giữa mình với người.
  • Ta cần nhận tri sự chấm dứt của ‘bóng tối bản ngã’ là một quá trình tất yếu, song song với quá trình mở ra quang minh của tự tánh bất nhị (gọi là nhận tri diệt đế). Sự chấm dứt mê hoặc (dứt vọng), và khai mở chân tâm (hiển chân) là khả thi, khả hành, khả tu, khả chứng. Dứt vọng, hiển chân là chủ đề vô cùng quan trọng trong đường tu bồ tát đạo, bởi vì bồ tát thay vì chỉ chú trọng tới dứt vọng, ngài luôn nhấn mạnh phải hiển chân, vì hiển chân không hề bị cản trở bởi quá trình dứt vọng; thay vì chú trọng tới tự độ để dứt nghiệp, ngài luôn chú trọng tới cứu độ toàn thể mạng lưới quan hệ cho mọi chúng sinh cùng thoát nghiệp. Thay vì loay hoay diệt trừ bóng tối vô minh do bản ngã tạo ra, bồ tát nỗ lực phát huy ánh sáng trí huệ vô ngã và tâm lượng từ bi vị tha.
  • Ta cần nhận tri con đường thích hợp cho mình, giúp ta tới chỗ dứt vọng, hiển chân (gọi là nhận tri đạo đế). Mỗi người chúng ta với căn tánh khác nhau, bối cảnh giáo dục, xã hội, công việc, hoàn cảnh sống, mức độ quan hệ với gia đình, tổ chức và đoàn thể cũng khác nhau, thì sự tu hành cũng sẽ ít nhiều khác nhau. Do đó ta cần hiểu rõ phương pháp luận tu hành (methodology of spiritual cultivation) để mình có thể dễ dàng trưởng thành trong phạm trù sinh hoạt và tâm linh. Chính sự trưởng thành này là nội dung then chốt của đạo đế. Bát Chánh Đạo thật sự là một phương pháp luận vô cùng thâm sâu và tuyệt diệu vì nó tạo ra một phương hướng giúp ta biết hướng suy nghĩ và hành động tới chỗ càng lúc ta càng trưởng thành, càng khai mở hơn.

Pháp của Phật: Bát Chánh Đạo

Bát Chánh Đạo là phương pháp luận quan trọng và nền tảng nhất mà Phật dạy để ta tu hành thành đạo. Không có một pháp môn nào của nhà Phật có thể ra ngoài phạm vi của Bát Chánh Đạo cả.

  1. Chánh kiến (samyag-drsti, right view): Tức là có cái nhìn chân chính về Tứ Diệu Đế, cũng tức là cái nhìn toàn diện. Do nhìn như thế nào thì ta sẽ sống như thế đó. Nếu ta nhìn ra vạn sự đều hàm tàng tính chất vô thường, không thể nắm bắt, thì ta sẽ có lối sống khác với kẻ thấy vạn sự là chắc thật, là thứ có thể chiếm đoạt và làm chủ. Nếu ta có thể thấy được nguyên nhân dẫn tới đau khổ (tập đế) thì cái nhìn ấy sẽ giúp ta có lối sống giảm bớt đau khổ cho mình và người. Do đó sức mạnh của cái nhìn là sức mạnh khiến đời ta thay đổi. Và thay đổi chính là trọng tâm của con đường tu, cũng là lý do khiến người ta muốn xuất gia cầu đạo giải thoát.

Con người chúng ta ai cũng có tầng nhìntầm nhìn khác nhau.

  • Tầng nhìn tức là bốn tầng nhìn căn bản trong bốn tầng tâm thức của con người chúng ta (đây là kiến giải theo tông phái Hoa Nghiêm): tâm thức và tầng nhìn vị ngã, tâm thức và tầng nhìn vị tha, tâm thức và tầng nhìn vô ngã, và tâm thức và tầng nhìn bất nhị. Phàm phu chẳng tu hành gì cả thì thường ở trong tầng nhìn vị ngã. Còn bồ tát thì bắt đầu chuyển đổi thành tâm thức vị tha và vô ngã hơn, để cuối cùng tiến hóa tới tầng nhìn bất nhị.
  • Tầm nhìn tức là phạm vi, lãnh vực, góc độ, và giới hạn khi ta nhìn từ một tầng tâm thức nào đó. Tầm nhìn càng rộng mở khi tầng nhìn ta càng cao. Sự mở rộng của tầm nhìn thường đi đôi với sự khai mở của tâm tình, tâm lý.
  1. Chánh tư duy (samyag-samkalpa, right thinking and intention):Tức là suy tư chính chắn, đúng đắn, toàn diện, xuyên suốt, thấu đáo vấn đề từ nhiều khía cạnh, nhiều phương diện khác nhau. Khi tự tánh của ta khai mở thì tâm tư ta luôn sáng suốt, đó gọi là quang minh của tự tánh. Do đó, khi ta biết suy tư chính chắn theo chân lý, suy tư để tâm ý sáng suốt, không bị mây dục vọng che đậy thì khi đó sự suy tư của ta sẽ thông đạt.

Tập suy tư xuyên thấu động cơ, tức là khi ta sắp làm việc gì, ta hãy quan sát động cơ của mình: Có vị ngã chăng? Có do tham vọng hay sợ hãi thúc đẩy chăng? Có phải vì giận lẫy thù hằn mà ta muốn làm việc này chăng?

Tập suy tư để càng lúc càng rõ về điểm mù, về những bóng tối của tự tâm, chứ không phải càng lúc càng suy nghĩ theo chiều hướng phát triển dục vọng.

Tập phát triển trực giác để có thể sáng suốt nhìn thấu điểm mù, bóng tối nội tâm, cũng như trực nhận được nỗi đau khổ của tha nhân.

Phát triển trực giác để thấy toàn diện khi làm một chuyện gì hay khi xử lý một công việc. Phát triển trực giác để thấy được chuỗi nhân quả, biết được phương pháp đưa tới sự kết thúc một cách an lành, và làm mọi người ai cũng nhờ đó mà tâm an, thần định.

  1. Chánh ngữ (samyag-vak, right speech): Vì biết rằng tự tánh quang minh thì lúc nào cũng chân thật bất hư, và lời nói là một phương tiện tối thù thắng, tối cao để biểu hiện quang minh của tự tánh, do đó ta học cách nói lời thành thật, chân thật, chân thành, hợp với chân lý bất biến. Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Trụ có dạy ta phải nói lời dịu dàng, nhu thuận; biết nói đúng lúc, đúng việc, và với thái độ thích hợp.

Nói để khiến tâm ta khai mở, và làm người nghe cũng cởi mở.

Nói để diễn bày chân lý Phật dạy, trong một thái độ nhẹ nhàng khiến ai ai cũng chấp nhận chứ không chống báng, phủ nhận.

Nói về cuộc sống để người nghe trân quý giá trị cuộc sống, tránh việc giết chóc sát hại sinh linh.

Nói về sự thay đổi của thời gian sẽ đưa đến tuổi già, khiến người nghe hiểu được lẽ vô thường, nên hết lòng giúp người khi còn sức lực, tận lực nói lời thương yêu đối với mọi người.

Nói về sự tất yếu của bịnh hoạn, để người nghe phát tâm hành thiện ngay lúc cường tráng, chăm lo săn sóc người bịnh khác, và đối diện với bịnh hoạn bằng tâm lạc quan, chấp nhận.

Nói về cái chết để người nghe thâm hiểu sự bất lực, nhỏ bé của kiếp người cát bụi, biết lý luân hồi tuần hoàn, rồi phát tâm hy sinh giúp đời, sửa đổi tâm tánh, tiến hóa tâm linh.

Nói để tăng trưởng tình thương, không phải tăng thêm lòng ái nhiễm. Nói để tăng trưởng sự hài hòa, không phải đưa tới sự bất hòa. Nói để tạo nên sự cảm thông, không phải chỉ muốn biểu dương bản ngã. Nói để chân lý lưu chuyển, không phải để đề cao bản thân, cầu danh tiếng tốt.

Tất cả những cách nói trên đều là cách hiển bày chánh ngữ.

  1. Chánh nghiệp (samyag-karmanta, right action): Chánh nghiệp là những hành động, cử chỉ, việc làm khiến quang minh của tự tánh được hiển hiện. Quang minh của tự tánh khi hiện ra nơi hành động thì thành ra những cử chỉ hài hòa, nhẹ nhàng, đem tới những cảm giác an lạc.

Hành động bày tỏ lòng từ bi, như không sát sanh mà phóng sanh.

Hành động bày tỏ lòng tha thứ đối với ai có lỗi với mình.

Hành động bày tỏ sự buông bỏ đối với những dục vọng, những truy đuổi, những mong cầu ích kỷ.

Hành động bày tỏ sự bao dung, không làm những động tác giận, lẫy, trả đũa, hung bạo, đe dọa.

Hành động bày tỏ sự quan hoài và trợ giúp đối với những ai cần tình thương, cần sự chú ý, cần được giải tỏa nỗi niềm uất kết.

Hành động bày tỏ sự hòa điệu của lục phủ ngũ tạng qua những động tác khiến thân thể khoẻ khoắn, không bị áp lực bức xúc.

Hành động bày tỏ sự khai mở của trí huệ vô lậu qua lúc tọa thiền, kinh hành, nội quán, cởi mở, buông thả, tha thứ, hy sinh, phục vụ.

  1. Chánh mạng (samyag-ajiva, right livelihood): Chánh mạng tức là làm những nghề nghiệp không tổn hại tới sự phát triển của quang minh. Quang minh ở đây có nghĩa là chân lý, tình thương, lòng từ bi, lòng nhân ái, lòng tha thứ, đức hiếu sinh, tánh công bằng, tánh khai mở, niềm vui thanh tịnh. Do đó, chánh mạng đưa tới những nghề nghiệp lợi ích tha nhân, không tổn hại đến sinh mạng, đến trí huệ hay đến tình cảm của người nào cả.

Khi ta sống và làm một việc nào đó suốt ngày, và làm trong thời gian lâu dài thì thể chất và tinh thần của ta chắc chắn bị ảnh hưởng bởi công việc đó. Vì vậy sự tuyển chọn một công việc khiến thể xác và tâm linh hài hòa đôi khi không phải dễ lắm, cho nên đức Phật khuyên ta tối thiểu phải tránh làm bất cứ ngành nghề nào khiến tổn hại đến ngũ giới. Ngũ giới tức là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không dối trá và không nghiện ngập.

Đối với người tu hành, thì càng nên tránh những nghề xử dụng bùa chú hại người. Hoặc hành nghề như bói toán, giải đoán kiết hung, tạo ra sự mê tín và mù quáng, khiến cho trí huệ quang minh sẵn có bị che lấp.

Hoặc khi hành nghề, nhưng có địa vị ảnh hưởng tới sự an toàn, hạnh phúc của kẻ khác, như lạm dụng chức vụ, tạo ra rối ren, bất công, áp bức, khiến người dưới mất cảm giác an toàn, mất phương hướng trong cuộc sống. Đó điều là những việc không nên làm.

Khi thời đại càng lúc càng cơ-khí-hóa, thì ta càng phải cẩn thận hơn trong quá trình chọn nghề, vì đôi khi những nghề ta làm không phải do chọn lựa mà do thời thế và nhu cầu sinh tồn đưa đẩy ta vào làm việc ấy.

  1. Chánh tinh tấn (samyag-vyayama, right vigor): Chánh tinh tấn là nỗ lực siêng năng phát triển quang minh của tự tánh. Quang minh này tức là sự sáng suốt, giác ngộ, khả năng giác tri, khả năng vượt thoát và buông xả chấp trước.

Tinh tấn là khả năng tập trung sức mạnh của nội lực trong thân, với sức mạnh của ý chí, và với sức mạnh của niềm tin mãnh liệt vào tự tánh Phật trong ta. Khi có tinh tấn thì mình sẽ hướng mọi nỗ lực vào khai mở quang minh của tự tánh mà không bị giao động bởi những cám dỗ của bóng tối vô minh. Những cám dỗ ấy thường là những dục vọng, muốn hưởng thụ, muốn đạt tới, muốn chiếm hữu, muốn có, muốn tiếp tục. Khi tinh tấn thì những tâm thái dục vọng ấy không hiện hữu. Nói cách khác:

Tinh tấn là nỗ lực hướng thiện, nhưng không mong cầu thành đạt hoặc báo đáp.

Tinh tấn là sức mạnh hướng tới trước, nhưng không mong đợi bất kỳ chỗ dừng chân hay chỗ tới.

Tinh tấn luôn ở trong dạng tinh thần tập trung, không hề chú trọng về mình, về ‘tôi’, về thể diện.

Tinh tấn đi đôi với tâm thái tích cực, không hề so sánh, đo lường, cân nhắc.

  1. Chánh niệm (samyak-smrti, right mindfulness): Chánh niệm là sự nhớ nghĩ không mất về bản chất tánh Không của mình, ở mọi thời mọi chốn. Bản chất tánh Không này được duy trì trong tâm qua: Việc nhớ giữ sự sáng suốt trong cái nhìn; nhớ giữ tình thương vô hạn trong khi quan hệ với tha nhân; nhớ giữ lòng thanh thản nhẹ nhàng lúc hành sự xử thế với đời; nhớ giữ sự vắng lặng vô vi khi bị đủ thứ dồn dập, bức ép; nhớ giữ lòng tha thứ vô biên khi bị ngược đãi, hủy nhục, chê bai, phá hoại; nhớ giữ nỗ lực tinh tấn khi tu luyện hàng ngày; nhớ giữ tâm lượng cởi mở rộng rãi khi chung đụng với người không cùng tín ngưỡng; nhớ giữ sự quan hoài ấm áp khi sống với người thân hay kẻ lạ.

Bình thường trong đầu ta có vô số hình ảnh do tiếp xúc với những trần cảnh bên ngoài. Vô hình trung có những thứ hình ảnh và kinh nghiệm ta thích và giữ mãi trong lòng. Đó là những hình ảnh của dục vọng, thỏa mãn lòng ham muốn, thỏa mãn sự nghiện ngập say mê.

Nhưng cũng có nhiều hình ảnh và kinh nghiệm ta ghét, ta chẳng thích, nhưng chúng khắc sâu vào tâm khảm, như những vết thương lòng, những kinh nghiệm bị ngược đãi, bị hành hạ, bị ruồng rẫy; những kinh nghiệm khi ta giận lẫy, bực tức, hay những kinh nghiệm khi người thân ta qua đời, ta bị mất mát, ta bị bỏ rơi… vô số những kinh nghiệm ấy trở thành một phần của cuộc sống và của ký ức. Tuy là kinh nghiệm thời quá khứ nhưng chúng tiếp tục ảnh hưởng lên đời sống ta ngày nay, khiến ta bị cột giữ trong bóng đen quá khứ mà không sao thoát được. Do đó chánh niệm là sự giải thoát chính mình ra khỏi những bóng đen ấy và nhớ giữ trong tâm trí những cái đẹp bản hữu, nhớ giữ sự thanh tịnh vô nhiễm của bản tánh Phật, nhớ giữ khả năng siêu thoát vô ngại của chân tánh.

  1. Chánh định (samyak-samadhi, right concentration): Chánh định là khả năng sống trong sự an định và tập trung, khiến sự giác tri về chân tâm Bất Nhị, (tức là Phật tánh, chân tánh, tánh Không) lúc nào cũng thường hiện vô ngại.

Cái làm cho ta không an định được thì vô số: từ sự mê muội, bị lôi cuốn theo bóng tối dục vọng, tới lòng ích kỷ, mê mẩn với tiền tài danh vọng, tới những thứ ham muốn vi tế vô cùng. Tất cả những thứ ấy đều hướng ngoại và hướng theo chiều vị ngã.

Một khi ta chịu buông xả những bóng tối ấy thì chánh định hiện tiền!

Lúc đầu, mới tập tu hành thì ta cần biết dụng công, ngồi thiền hoặc tụng chú, cố gắng tập trung tinh thần, không để tán loạn. Sau lần lần, ta biết khắc phục thân xác, ngồi lắng lòng, buông lỏng.

Sau ta tập tới chỗ lúc nào cũng nhẹ nhàng vào trong trạng thái an định một cách dễ dàng. Rồi cuối cùng, đâu đâu ta cũng thấy không trở ngại, dễ dàng tới chỗ an nhiên tự tại. Cứu cánh, ta sẽ thấy mọi sự, chuyện gì cũng vô ngại, đâu đâu cũng là đạo tràng.

Nhờ có chánh định thì ta mới thoát sinh tử. Vì sao? Vì sinh tử luân hồi thì dựa vào sự dấy khởi không ngừng của dục vọng, sợ hãi, và sự duy trì ảo ảnh về bản ngã; còn chánh định là sự chấm dứt tất cả dục vọng, sợ hãi và ảo ảnh.


Những người con Phật: Năm người đệ tử đầu tiên

Trong thời gian đức Cồ Đàm tu khổ hạnh, ngài đã kết bạn với ngài Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinya) là một vị đạo sĩ bà la môn. Ngài Kiều Trần Như đã dẫn bốn đạo sĩ khác để cùng tu học với ngài Cồ Đàm. Bốn vị ấy là Bạt Đề (Bharika), Bà Sư Ba (Baspa), Ma Ha Nam (Mahanama), và A Thuyết Thị (Asvajit).

Khi ngài Cồ Đàm quyết định tìm đường trung đạo, thọ sữa dê cúng dường từ một người nữ, thì năm vị đạo sĩ ấy cho rằng đức Cồ Đàm đã không còn ý chí tu trì khổ hạnh nữa nên họ chia tay với ngài. Đến lúc ngài Cồ Đàm ngộ đạo, thành Phật thì trước hết ngài nhớ tới hai vị thầy cũ của mình là Arada Kalama và Udraka Ramaputra, là những người ngài mang ơn dạy dỗ. Ngài muốn đem sự giác ngộ của mình tới họ, nhưng rất tiếc họ đều đã qua đời. Đức Phật lại nhớ tới năm người bạn Kiều Trần Như, tức là những người đồng đạo dốc lòng tu hành xưa kia với ngài.

Thế rồi đức Phật đã tới vườn Lộc Uyển (Mrigadava) để thuyết pháp cho năm vị này. Khi ngài Kiều Trần Như nghe bài pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế thì ngài liền chứng ngộ ngay Sơ Quả Tu Đà Hoàn; đến năm ngày sau khi nghe đức Phật giảng tiếp về lý vô ngã thì ngài lại đắc quả A La Hán. Khi ngài xin đức Phật được theo gót đức Phật học đạo, hành đạo, đức Phật đồng ý, gọi rằng: “Thiện lai tỳ kheo!”, thế là tóc ngài rơi rụng, trở thành vị tăng đầu tiên của đức Phật.

Ngài Kiều Trần Như và bốn người đồng đạo trở thành những vị tỳ kheo đầu tiên, tạo thành tăng đoàn (sangha) nhà Phật.

Tại sao sự hóa độ năm vị đệ tử này thường được nhắc tới? Bởi vì nó nói lên đức tánh thủy chung, tình thương chân thật và động cơ tu hành thâm sâu của đức Phật; chúng cũng là đức tánh của mọi người tu giải thoát. Sau khi đức Phật thành đạo ngài nghĩ tới cứu độ cha mẹ ngài, tiếp độ những người đồng tu, hóa độ những người có duyên với ngài liền. Những người ấy: cha mẹ, họ hàng, bạn bè, đồng sự đều là những người trong mạng lưới nhân duyên của ta. Theo tinh thần bồ tát đạo, ta tu hành chính là vì những người ấy chứ không phải là ta vì mình. Đó là vì cứu cánh, ta chính là toàn thể mạng lưới nhân duyên chứ ta không phải là một hoang đảo cô quạnh.


Những người con Phật: Năm chúng đệ tử xuất gia

Những ai xuất gia với Phật đều thuộc vào một trong năm loại, dựa vào sự khác biệt của giới luật mà phân biệt. Tất cả giới luật được đặt ra vì chúng là khuôn phép quy định hành vi của một nhóm người (chư tăng, chư ni) khi sống chung. Những khuôn phép ấy đều là những quy ước dành cho cá thể, và quan hệ giữa cá thể với tăng đoàn. Như thế, tất cả giới luật đều được tuần tự chế định tùy theo nhân duyên và nhu cầu của cuộc sống tăng đoàn lúc đó, chứ không phải được Phật trong một ngày một đêm đặt ra. Dựa trên sự thọ trì giới luật mà ta phân biệt các chúng đệ tử, như sau:

  1. Tỳ kheo (bhikshu), nhiều khi còn gọi là sa môn (sramana), là những người đệ tử chân chính, thọ 227 giới theo truyền thống Nam tông (theravada), hoặc 250 giới theo truyền thống Bắc tông (mahayana). Ý nghĩa chính của chữ tỳ kheo là khất sĩ, tức là dưới thì cầu thực phẩm để nuôi thân, trên thì cầu trí huệ Phật để nuôi dưỡng tâm linh. Ba ý nghĩa quan trọng khác của tỳ kheo là bố ma, phá ác, và tịnh mạng. Bố ma là bản chất của người tỳ kheo, tức là họ theo con đường thanh tịnh, khiến thiên ma sợ hãi. Thiên ma cũng tức là những thứ dục vọng, ham muốn, tâm thái đen tối. Phá ác là tướng trạng của tỳ kheo, tức là họ trì giới nghiêm mật, giữ oai nghi thanh tịnh, không làm ai sợ hãi, không tạo ác nghiệp. Nhờ đó, từ tướng mạo tới tâm tánh, họ tỏa ra sự hiền hòa, dễ thương, dễ gần gũi, dễ thân cận, lại khiến mọi ác hạnh biến mất, nên gọi là phá ác. Tịnh mạng là tác dụng của người tỳ kheo, rằng họ không làm bất kỳ nghề nghiệp thế tục nào để kiếm sống hay cầu danh cầu lợi, họ chỉ sống thanh tịnh vô vi, ảnh hưởng tới những ai thấy họ, sẽ khiến phát tâm tôn trọng cung kính đạo pháp. Tỳ kheo là những người khiến ai ai thấy cũng phải quý kính, thương mến. Đó là tác dụng của tịnh mạng.
  2. Tỳ kheo ni (bhikshuni), tức là những nữ chúng tỳ kheo. Người đầu tiên được làm tỳ kheo ni là bà mẹ nuôi của đức Phật, bà Đại Ái Đạo. Bà xin Phật cho bà xuất gia tu hành, cũng khoảng 14 năm sau khi Phật thành đạo hoằng hóa độ sinh. Như thế, tỳ kheo ni chúng xuất hiện rất muộn so với tỳ kheo chúng. Chư tỳ kheo ni thì thọ tới 348 giới (hoặc 311 giới), chứ không giống như những giới của chư tỳ kheo. Ngoại trừ sự khác biệt về giới luật, chư tỳ kheo ni cũng tu hành, hoằng đạo như chư tỳ kheo; cũng đuợc tôn trọng và cúng dường không khác gì chư tỳ kheo cả.
  3. Sa di (sramanera) tức là những người tập sự chuẩn bị làm tỳ kheo. Sa di có 3 nghĩa chính: tức từ, cần sách và cầu tịch. Tức từ nghĩa là dứt bỏ điều ác (tức nghĩa là dừng), và trở nên hiền hòa dễ thương (từ nghĩa là hiền từ, dễ thương, dễ thân cận). Cần sách nghĩa là tinh tấn siêng năng tu hành (ý nghĩa chữ cần); thường phải tự sách tấn, nhưng cũng thường tiếp nhận sự khuyến khích tu hành của chư vị tỳ kheo (ý nghĩa chữ sách). Cầu tịch nghĩa là hướng tâm chí tới (ý nghĩa chữ cầu) Niết Bàn, tới đạo giải thoát sinh tử luân hồi (ý nghĩa chữ tịch). Tất cả sa di đều thọ mười giới căn bản của người xuất gia. Sa di là giai đoạn tu hành căn bản và quan trọng vô cùng trong quá trình tu đạo giải thoát. Cá tánh của người sa di được hun đúc trong khi tập tành làm sa di. Theo truyền thống Phật giáo thì điều kiện đầu tiên để trở thành tỳ kheo, tỳ kheo ni là ta phải tròn 20 tuổi. Như thế, hậu ý rằng ta phải đủ trưởng thành để bước vào con đường tâm linh. Do đó nhiều người xuất gia rất sớm, 7 hoặc 8 tuổi; khi đó các em trẻ phải được giáo dục về tâm trí, cũng như phát triển về sự nhận tri giá trị tâm linh để đến khi 20 tuổi các em sẽ dễ dàng tham dự sinh hoạt của chư tỳ kheo tỳ kheo ni.
  4. Sa di ni (sramanerari) tức là những người nữ xuất gia thọ mười giới sa di. Tùy theo tuổi tác mà sa di và sa di ni thường được xếp vào ba nhóm chính:
    1. Nhóm từ 7 tới 13 tuổi: Gọi là nhóm Khu Ô Sa Di (đuổi quạ) tức là các em ở tuổi chưa có sự trưởng thành về tâm linh.
    2. Nhóm từ 14 tới 19 tuổi: Gọi là nhóm Ứng Pháp Sa Di (thích ứng với pháp sa di) tức là các em đã có nhiều hiểu biết, có thể thọ trì giới sa di và sa di ni đúng đắn, có thể giữ gìn oai nghi luật lệ.
    3. Nhóm từ 20 tới 70 tuổi: Gọi là nhóm Danh Tự Sa Di (chỉ có tên là sa di)tức là những người đã đủ tư cách để trở thành tỳ kheo, tỳ kheo ni, nhưng vì nhân duyên chưa đủ nên phải giữ công hạnh và hình tướng, giới luật của người sa di, sa di ni.

Có những sa di hay sa di ni đã chính thức thọ mười giới, thọ pháp làm sa di, giữ gìn giới luật, tuân theo quy chế, gọi là pháp đồng sa di (ni). Nhưng lại có những vị không thọ mười giới, tuy ở trong tăng chúng và ni chúng, cạo tóc mặc áo cà sa, nhưng bản chất trần tục chưa thay đổi, gọi là hình đồng sa di (ni).

  1. Thức xoa ma na (siksamana): Còn gọi là thức xoa, thức xoa ma na ni, thức xoa ma ni, có nghĩa là những vị học pháp nữ hay chánh học nữ. Đức Phật dạy rằng người phụ nữ, tức là chư vị sa di ni, cần trải qua một quá trình học và huấn luyện trước khi trở thành tỳ kheo ni. Quá trình đó gọi là thức xoa ma na. Giai đoạn huấn luyện này chỉ có 2 năm (hay là hai mùa kiết hạ an cư, hai mùa mưa). Trong hai năm huấn luyện, người sa di ni thường được quan sát về tâm sinh lý, và về chí hướng tu hành để khi họ thọ tỳ kheo ni giới thì tâm lý cũng như tâm linh đều được hun đúc và trưởng thành. Ngoài sự giữ gìn nghiêm chỉnh mười giới sa di ni, sự huấn luyện chính yếu của thức xoa ma na bao gồm sáu pháp, như sau:
    1. Không được xúc chạm nam giới
    2. Không trộm cắp, dù nhỏ tới đâu
    3. Không cố ý giết hại súc sinh
    4. Không nói dối, dù nhỏ tới đâu
    5. Không ăn phi thời, tức là chỉ ăn lúc giữa trưa mà thôi
    6. Không được uống rượu, chất say, dù ít tới đâu

Ngoài năm chúng xuất gia nói trên là hai chúng tại gia, gọi là ưu bà tắc (nam tại gia) và ưu bà di (nữ tại gia). Gọi là tại gia tức là phải thọ năm giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối trá, không rượu chè nghiện ngập); đồng thời sống theo khuôn phép của thập thiện, tức là mười hạnh lành. Đối với thân thể, gồm có ba hạnh: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Đối với lời nói, gồm có bốn hạnh: không nói dối, không nói lời thô tục, không nói lời thêu dệt, và không nói lời đâm thọc hai đầu. Đối với tâm tư, gồm có ba hạnh: không tham, không giận lẫy, không cố chấp si mê.

Đối với người Phật tử tại gia trong thời đại này, chỉ cần làm theo bài kệ sau đây, là mọi công hạnh đều đầy đủ:

Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành,

Tự tịnh kỳ ý,

Thị chư Phật giáo.

Nghĩa là:

Đừng làm chuyện gì xấu,

Làm hết mọi việc lành,

Lắng tâm cho thanh tịnh,

Đó là lời Phật dạy.


Pháp của Phật: Mười giới cho sa di và sa di ni

Mười giới của sa di và sa di ni là những giới luật căn bản cho sự hành trì đạo giải thoát. Tất cả mười giới là những khuôn phép nhằm khống chế dục vọng và sự phóng túng của thân xác. Do thân xác được cột giữ trong nề nếp nên tâm ý mới không buông lung, mất nết. Bởi vậy toàn thể mười giới là những khuôn phép vô cùng quan trọng trong quá trình trưởng thành tâm linh, nhất là đối với những người thiếu khả năng nội quán, phản tỉnh, hoặc thiếu trưởng thành về giá trị tâm linh. Như sau:

  1. Không sát sinh
  2. Không trộm cướp
  3. Không dâm (phi phạm hạnh)
  4. Không nói dối
  5. Không uống rượu hoặc chất say, không nghiện ngập
  6. Không đeo tràng hoa, không xức dầu thơm xoa thân, không trang điểm
  7. Không ca múa, nhảy nhót, không tham gia biểu diễn, không cố ý đi lắng nghe, coi xem (ca nhạc, trình diễn, giải trí)
  8. Không nằm giường to rộng, cao lớn
  9. Không ăn phi thời (không ăn ngoài thời gian được quy định, thông thường là giữa trưa)

10.  Không nắm giữ tiền bạc, vàng ngọc, châu báu


Mô hình xuất gia vị tha

Tâm thức bồ tát là tâm thức vị tha.

Tinh thần bồ tát là tinh thần phục vụ.

Mô hình tu hành của bồ tát tức là mô hình phát triển tâm bồ đề.

Phát triển tâm bồ đề nghĩa là phát triển một tâm thái không ngừng cầu tiến, không ngừng tiến hóa. Nghĩa là sao? Nghĩa là ta không ngừng khai mở, nuôi dưỡng, và cuối cùng thành tựu viên mãn quang minh tự tánh của chính mình và mọi người trong mạng lưới nhân duyên. Quang minh có thể hiểu là trí huệ siêu việt, tri kiến sáng suốt, lòng thương (đại bi) vô hạn, tánh bao dung, dễ dàng tha thứ, tánh bố thí, phục vụ trợ giúp tha nhân, tánh vượt thoát chấp trước, tánh nhận tri điểm mù, không ngừng tái tạo và canh tân chính mình. Như thế quang minh không phải là một thứ ánh sáng mà là tất cả đặc tính sẵn có trong mỗi người, do đó mới gọi là quang minh của tự tánh. Phát triển quang minh của tự tánh tức là khiến tâm thức ta thoát khỏi xu hướng vị ngã, ích kỷ, trĩu nặng tham sân si.

Để phát triển tâm bồ đề, hội Từ Bi Phụng Sự dựa vào kinh Hoa Nghiêm để thiết lập một mô hình tu toàn diện nhằm phát triển quang minh sẵn có của mọi người. Mô hình đó gọi là mô hình Xuất Tục Nhập Thế.

Xuất tục nghĩa là thoát khỏi, vượt thoát những khuynh hướng thế tục trong tâm thức, những thói quen ích kỷ, hóa giải lòng ham muốn, dục vọng, sợ hãi, giận lẫy. Xuất tục đòi hỏi ta không ngừng nội quán, thiền định để xuyên phá ngũ ấm, khai mở quang minh tự tánh.

Nhập thế nghĩa là trở về lại với trần thế, đem đạo pháp về với những người trong mạng lưới nhân duyên, chuyển hóa mối quan hệ của mình với người bằng cách cởi mở gút thắt tâm tình, đan kết thiện duyên với những chúng sinh khác, và cuối cùng khiến mọi người đều khai mở quang minh tự tánh.

Xuất tục thuộc về phạm trù tự tu, tự mình tu luyện để chuyển hóa tâm tánh.

Nhập thế thuộc về phạm trù tu với tha nhân, trong đó bao gồm việc ta chia sẻ, dạy người khác tu, tu phương tiện thiện xảo để giáo hóa, và kiến tạo cộng đồng tu hành.


Trọng tâm của xuất gia vị tha

Trọng tâm của chương trình xuất gia vị tha gồm có hai phần: Một, giúp người tại gia có thể ứng dụng mô hình Xuất Tục Nhập Thế vào trong đời sống. Hai, thể nghiệm nét đẹp và cao quý của truyền thống xuất gia, từ đó đưa tới sự thành tâm hộ trì Tam Bảo.

  1. Ứng dụng mô hình Xuất Tục Nhập Thế: Tức là khi người tại gia tham dự chương trình xuất gia vị tha, họ sẽ phát khởi tâm lượng bồ tát, tức là tâm lượng tu hành vì một người nào đó, chứ không phải cho riêng mình. Sự phát tâm này quý giá vô song, không có gì có thể so sánh bằng. Đó là bởi vì con đường bồ tát luôn luôn bắt đầu bằng sự khai mở của con tim, của lòng thương, lòng vị tha.

Kế đó, trong suốt thời gian xuất gia vị tha, người tu sẽ học cách tập luyện cho thân thể dồi dào nội lực, tập tọa thiền, quán sát nội tâm, giữ gìn giới luật, thanh tịnh mọi dục vọng, nhận tri thói hư tật xấu; đó là thực hiện tu trì trong phạm trù Xuất Tục.

Mặt khác, người tu cũng tập chia sẻ suy tư với bạn đồng tu, tập quen thuộc với nếp sống cộng đồng của tăng đoàn, tham gia hoạt động xây dựng mandala, tham gia phục vụ, chấp tác; đó là những hạnh tu tập trong phạm trù Nhập Thế.

  1. Thể nghiệm nét đẹp của truyền thống xuất gia: Nhờ học giới luật, thực tập oai nghi của người xuất gia, từ cách đi đứng tới cách ăn uống, xướng tụng, lễ lạy, tọa thiền, tụng giới, nhập đàn… cho nên người xuất gia vị tha sẽ thêm thâm hiểu ý vị đời tu, sẽ biết khiêm cung trước sự hy sinh dâng hiến trọn đời vào con đường thanh tịnh vô dục của chư vị tỳ kheo, tỳ kheo ni; sẽ nhận ra nét đẹp vô cùng của tâm thức hành đạo vô dục, và sẽ cảm kích đức Phật và tăng đoàn của ngài hơn nữa.

Trong đời Mạt Pháp này, nếu còn người phát tâm xuất gia tu theo Phật dạy thì  thật là quý hóa vô cùng. Đức Phật từng nói: “Nếu có ai có thể một ngày một đêm thọ bát quan trai giới của người tại gia, thì người ấy sẽ hoạch phước ngang bằng như Phật.” Huống hồ là giờ đây có người lại phát tâm tu trì giữ gìn mười giới sa di liên tục trong bảy ngày bảy đêm, như thế phước đức càng vô biên!


Thọ giới khi xuất gia vị tha: Bồ tát giới

Thông thường tất cả những người thọ giới tỳ kheo, tỳ kheo ni, đều phải thọ giới bồ tát.

Giới bồ tát là giới để ta học và giữ gìn để trở thành bồ tát; cũng gọi là giới dành cho bồ tát. Những ai muốn thực hành đạo bồ tát đều nên phát tâm học giới bồ tát.

Xét về quan niệm thọ trì giới bồ tát, thì ta cần có tâm thái rằng mình thọ giới bồ tát để học hỏi và cố gắng noi theo những cương lĩnh dạy ta làm bồ tát. Qua sự thọ trì, tâm ta sẽ từ từ trưởng thành và chín mùi với những quan niệm vị tha, những tâm ý hướng mình phục vụ. Ta không nên sợ rằng mình không giữ được giới này giới kia, mà nên nghĩ rằng thọ giới bồ tát là tiếp nhận một phương hướng giáo dục cho suốt đời này và các đời sau. Thí dụ như giới đầu tiên của bồ tát giới là giới phổ nhiêu ích, tức là khuôn phép hướng đời ta vào việc làm lợi ích tất cả mọi chúng sinh. Như thế khi thọ giới bồ tát, ta nên xem chữ giới tức là chữ giáo dục vậy.

Khi tham gia chương trình huấn luyện xuất gia vị tha thì người tu sẽ thọ mười giới bồ tát theo phẩm Vô Tận Tạng của kinh Hoa Nghiêm chứ không theo 10 giới nặng và 48 giới nhẹ của kinh Phạm Võng mà chư tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sa di ni, thường hay thọ trì. Mục đích của việc vận dụng mười giớitrong kinh Hoa Nghiêm là để tạo ra một khuôn phép rộng rãi, nhấn mạnh vào chiều hướng giáo dục hơn là chiều hướng quy luật; giúp người tu mở tâm mở tánh, hiểu biết chiều rộng và chiều sâu của đạo bồ tát mà không sợ hãi, thối chí; rồi cuối cùng chân chính phát tâm tu đạo, theo hạnh nguyện vĩ đại của chư bồ tát.

Chiều hướng giáo dục trong việc thọ bồ tát giới là gì? Thí dụ như khi ta đi học, nếu làm bài sai thì cũng không mắc tội lỗi gì cả. Người thầy sẽ dạy dỗ cho đến khi ta hiểu và làm bài cho đúng. Không vị thầy nào dọa rằng ta làm sai sẽ đọa địa ngục, bi đuổi học, hay bị xuống lớp. Tính chất giáo dục trong quá trình thọ trì giới bồ tát cũng vậy: ta cố gắng nỗ lực làm theo tinh thần của giới bồ tát. Nếu làm sai hoặc khiếm khuyết, thì ta sẽ học hỏi thêm nữa để làm sao thực hành tinh thần bồ tát tốt hơn. Không ai trừng phạt, cũng không ai dọa rằng ta không giữ giới thì sẽ đọa địa ngục. Càng nghiên cứu phương thức để thực hành theo tinh thần giới bồ tát thì sự nhận tri và mức độ trưởng thành của cá tánh sẽ càng cao hơn.

Cũng nên nói thêm rằng, việc thọ trì giới bồ tát của kinh Phạm Võng vốn là một truyền thống lâu đời của Bắc Tông Phật Giáo, mà Trung Hoa và Việt Nam là mạnh nhất. Tuy nhiên kinh Phạm Võng chỉ là một trong 6 bản kinh nói về giới bồ tát, 5 cuốn khác thường được biết tới là:

  • Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp
  • Du Già Luận Bồ Tát Giới Bổn
  • Bồ Tát Địa Trì Kinh Giới Bổn
  • Bồ tát Thiện Giới Kinh Giới Bổn
  • Ưu Bà Tắc Giới Kinh Giới Bổn

Giá trị quan của người xuất gia vị tha

Trong bối cảnh của thời đại ngày nay, chương trình xuất gia vị tha luôn chú trọng tới hun đúc những giá trị và cá tánh mà người tham gia có thể đem về áp dụng trong đời sống thường nhật, chứ không phải chỉ sử dụng lúc xuất gia đoản kỳ mà thôi.

Vì vậy có 5 giá trị tâm linh chủ chốt mà chương trình nêu ra:

  1. Vô vi: Nghĩa là sự thư giãn của thân thể; cũng là phong thái nhẹ nhàng không gấp gáp không bức xúc trong đời sống thường nhật.
  • Tập thả lỏng hàng ngày.
  • Tập thư thái trong lời nói.
  • Tập nhẹ nhàng khi đối xử với người thân.
  • Tập chấp nhận, không phản kháng lời phê bình.
  • Tập vui vẻ, lạc quan, chẳng mong cầu lợi lộc gì khi làm thiện nguyện.
  1. Vô cầu: Nghĩa là sự thư giãn của tâm ý và động cơ, tức là không nghĩ tới những ý tưởng ích kỷ, vị ngã.
  • Không cầu mình an lạc, chỉ biết hy sinh khiến người ta an lạc trước.
  • Không mong ai khen mình, biết tri nhận, tán thán chuyện tốt của tha nhân.
  • Không mong ai nhớ nghĩ công lao mình, luôn hết lòng phục vụ, khiến người an vui.
  • Không cầu xin ơn trên giúp mình, chỉ hy sinh tận lực giúp người.
  1. Vô hình: Nghĩa là không đi tìm sự chú ý bằng những hành động (lố bịch hay vi tế) gợi sự chú ý của tha nhân. Vô hình thì ý nói về mặt thân xác nhiều hơn là nói về mặt tâm linh.
  • Làm hết lòng, nhẹ nhàng bày tỏ.
  • Thân có mệt cũng phục vụ, cũng hy sinh, mà không kể lể.
  • Dù thân có mệt cũng không oán trách ai, vẫn tiếp tục hy sinh, phục vụ.
  1. Vô tướng: Nghĩa là không để danh lợi làm động cơ của hành động. Khi thành công thì thân thối lui. Biết làm việc theo teamwork (đồng đội) chứ không phải chỉ biết tự mình làm hết mọi chuyện. Vô tướng thì ý nói về mặt tinh thần nhiều hơn là nói về mặt thể xác.
  • Biết làm người ta phát tâm, mở lòng hướng thượng.
  • Biết chia sẻ từ tâm trí, tới niềm lạc quan, tới phước đức với mọi người.
  • Biết sống hài hòa, không đòi hỏi tha nhân phải như thế này thế kia với mình.
  • Biết lúc nào việc xong thì mới nhẹ nhàng phủi tay, không làm phiền ai, cũng không lẫy hờn.

Lời kết: Tiếp tục khai mở

Chương trình xuất gia vị tha chỉ là một nỗ lực nhỏ bé trong quá trình tu đạo dài đăng đẳng. Chúng ta ai ai cũng muốn hướng thiện và hướng thượng, đồng thời cũng mong tất cả những ai có duyên với mình cũng đều cải thiện và hạnh phúc.

Do đó chúng ta mong rằng ai ai tới tham gia chương trình huấn luyện đoản kỳ xuất gia cũng đều cảm nhận được khả năng tiến đạo, có cơ hội để hồi hướng và tu hành giúp tha nhân, có cái nhìn lạc quan khi nhìn về con đường tu đạo của mình, tăng thêm quyết tâm theo học đức hạnh bồ tát.

Chỉ mong những niềm vui, những cái đẹp, những giây phút tuyệt diệu khi chúng ta tham gia hoặc khi hộ trì chương trình xuất gia vị tha sẽ mãi mãi sống trong lòng mình, rồi lan toả tới khắp cùng mạng lưới nhân duyên!

Tất cả hình ảnh ở những trang sau đây do cô Huang Ya Lan chụp lại, ghi nhận vô cùng trung thực những kinh nghiệm, những giây phút quý đẹp của tất cả các vị tham gia chương trình huấn luyện xuất gia vị tha trong hai năm 2011 và 2012.

Xin mời độc giả cùng vào thế giới nội tâm của những vị xuất gia vị tha!

Trong những giây phút cô đơn, tĩnh lặng, hay giây phút hoan lạc, hạnh phúc, nếu độc giả chợt nhớ tới hình ảnh cao đẹp của những người tu này, xin hãy lan tỏa tình thương của mình tới tất cả những ai có duyên.

Nếu các bạn muốn tham gia vào chương trình huấn luyện xuất gia vị tha hàng năm, thì xin chớ ngần ngại liên lạc với hội Từ Bi Phụng Sự qua trang nhà www.compassheart.com.

Trì chú đại bị có cần hiểu nghĩa không?

Thầy Thích Hằng Trường giảng, Xuân Dung ghi lại

Các bác có câu hỏi gì về phương thức tu trì hay tụng niệm không?

Đại chúng: Cám ơn thầy hôm nay đã giúp cho đại chúng hiểu thêm về chú đại bi. Con có câu hỏi sau đây. Có một số người nói rằng khi chúng ta tụng chú đại bi, thực sự không cần phải biết ý nghĩa vì đó là mật khẩu của các đức Phật. Hôm nay thầy lại giảng là ta nên cần biết về ý nghĩa, như vậy khi tụng chú mới linh nghiệm.

Đây là hai cái nhìn khác nhau mà con thấy cái nhìn của thầy có vẻ có lý hơn cái nhìn kia. Nhưng thực sự ra những người không biết gì về ý nghĩa của chú đại bi, họ tụng chú đại bi theo kiểu kia, tức là không cần biết, thì có linh nghiệm hơn không hay chỉ cần đọc nhiều cũng tốt?

Thầy: Chị tên gì vậy chị?

Đại chúng: Tên Vân ạ.

Thầy: Có bao nhiêu bác hứng thú về câu hỏi này? Giơ tay lên? Oah, như vậy là chị Vân hay quá, biết đại chúng muốn gì. Thầy xin nói để các bác nghe nha.

Không hề có sự đối nghịch nhau. Đây:

Con nguời chúng ta nếu kể ra từ đầu thì có ba bộ phận:

Bộ phận đầu tiên là tiền lý trí (pre-rational), tức là mình chưa suy nghĩ gì về lý trí cả. Mình không suy nghĩ về giận, tham, sân, đủ thứ chuyện.

Bộ phận thứ nhì là rational: đây là phần lý trí, mình suy nghĩ, suy tư. Mình ngồi đây mà  nghĩ tới tương lai, tới quá khứ được (hypothetical thinking). Suy ra từ điểm này ra điểm nọ. Rất đặc biệt. Con nít một hai tuổi không làm được, không thể nghĩ tới tương lai, tới quá khứ. Tới 6 tuổi mới bắt đầu biết nghĩ, lý trí càng lúc càng mạnh ra. Sự phát triển này rất quan trọng.

Tới một lúc nào đó, chúng ta mới phát triển tới siêu lý trí (trans-rational), siêu việt ra ngoài lý trí.

Khi các bác ngồi thiền, đi tu học, học chữ, học nghĩa, bất kỳ chữ nghĩa nào tại trung học hay  đại học. Thực sự ra là chúng ta đang học lý trí. Không ai dạy chi khác cả. Nếu chúng ta không   học gì cả, sống bình thường như loài vật, chúng ta sẽ sống theo thú tính, chúng ta sẽ giận dữ, đủ thứ v.v…

Khi thiền là mình phát triển siêu lý trí. Thiền định là một môn học, trạng thái siêu lý trí được gọi là tâm thức mà lý trí sẽ đạt được. Khi đi học, các bác ở trong vùng lý trí. Khi bác đi vào sự huấn luyện của nhà thiền (chốn thiền môn), họ không muốn mình hiểu biết cái gì cả, bởi nếu hiểu, mình sẽ bị kẹt trong vùng ngôn từ của lý trí.

Đức bồ đề Đạt Ma có một câu rất hay. Đó là “giáo ngoại biệt truyền”. Giáo ngoại là bên ngoài   ý nghĩa của đạo Phật, biệt truyền là đặc biệt truyền lại, là mình transmit beyond verbal   communication. Còn “ngôn ngữ đạo đoạn”: ngôn ngữ đạo là con đường của ngôn từ, đoạn là   hết, ngừng lại. “Tâm thành xứ diệt”. Đây là chuyện của thiền.

Như vậy người tu thiền làm sao bắt đi học ý nghĩa của chú đại bi cho được? Nhưng hãy coi   thử chú đại bi thuộc thiền hay không? Không, chú đại bi thuộc về Chơn Ngôn tông, Mật tông, Hoa Nghiêm tông. Chú đại bi không phải về thiền.

Thầy có phải là thiền sư không, các bác? Không. Thầy không phải là Zen master, chỉ là bần   tăng thôi Bần tăng cũng không phải phải, không phải trái, không trên không dưới.

Trong thiền môn, thầy xin trình bày thêm để chị Vân rõ, ngày xưa, khi thầy còn ở trong thiền viện hay tu viện mà thầy ở, có tên là Như Lai tự. Như Lai tự này không dính dáng gì tới Như Lai thời nay, trên chùa Vạn Phật. Mỗi năm, trong chùa này có 3 tuần thiền thất. Trong ba tuần này các bác biết làm gì không? Mình ngồi thiền từ 3 giờ sáng cho tới 12 giờ   đêm. Ngồi 20 phút là mình phải vận động, đi bộ hay exercise gì đó, rồi lại ngồi tiếp 20 phút, rồi lại đứng lên vận động. Cả một tiến trình như vậy liên tục trong 21 ngày, mỗi ngày ngủ 3 tiếng thôi. Nếu ngồi thiền mà ngủ gục là bị đập. Tuyệt đối không coi sách vở, không đọc chữ, không làm bất kỳ chuyện gì, chỉ ngồi tham thiền rồi đứng lên, liên tục như vậy.

Nhưng ba tuần lại không thấm thía gì cả. Thầy từng đi thăm một chỗ, mà các bác không thể   tưởng tượng được, tên là Cựu Kim Sơn. Đây là Cựu Kim Sơn ở bên Tàu, không phải ở Việt Nam, hay bên Mỹ. Chùa Kim Sơn này sản xuất ra ông Kim Sơn hoạt Phật. Ông hoạt Phật này   là thiệt, bác bệnh cỡ nào, ông chỉ cà cà đất, đưa cho bác uống, hay đập đập lên đầu. Ông giỏi   về chữa trị các bệnh. Nhưng người ta không biết chùa Kim Sơn này còn sản xuất ra nhiều   vị thiền sư, bởi một lần họ ngồi thiền không phải 21 ngày, mà một lần ngồi là ba tháng. Ba tháng một lần liên tục. Một năm 12 tháng, có 4 khóa thiền, nên họ ngồi luôn một năm.

Thiền thất ở Kim Sơn nổi tiếng cực kỳ bởi những thời khóa tu thiền đó. Sau này có rất nhiều. Sau này không phải thời bây giờ mà là thời nhà Thanh, nhà Minh, có rất nhiều thiền viện cũng đặt thời khóa thiền là cả một năm luôn. Bác vô đó ngồi từ sáng tới tối, có một cây hương thay cho đồng hồ. Một cây nhang như vậy là hai tiếng. Một ngày họ làm khoảng 5, 6 cây nhang. Điều này cho thấy có những người tu là tu kinh khiếp lắm.

Trong lúc tu hành như vậy, họ chủ trương không đọc chữ nghĩa. Truyền thống này từ từ  truyền lan sang những người đọc chú, đọc kinh này nọ đến độ có những người đang đọc kinh, ông thiền sư tới lấy kinh đốt đi. Trong lịch sử có ghi lại có ông thiền sư vì trời nóng, đã xé kinh ra làm củi lửa để đốt.

Những câu chuyện đó ảnh hưởng vào tâm thức những người tu bình thường như chúng ta.   Chúng ta không phải là thiền sư và chúng ta cũng không phải tu thiền. Mình tu gì? Mình tu   đi chùa, tu niệm Phật, tu trì chú, tu đủ thứ, gọi là tạp tu. Cho nên, nếu bây giờ nói bác cứ trì   chú đại bi chẳng cần hiểu ý nghĩa, hoàn toàn đúng cho các vị thiền sư, nhưng không hoàn   toàn đúng cho chúng mình, những người tạp tu. Các bác có đồng ý không?

Nhưng, nếu bây giờ bác nói:”Thưa thầy, con muốn nhập thất và con muốn chuyên tu, tu đại   bi thôi”. Lúc đó bác sẽ vào thất chuyên tu, lúc đó bác sẽ chỉ trì tụng mà thôi. Trì tụng chú đại   bi không phải chỉ bằng miệng mà phải bằng tâm. Bác ngồi nhắm mắt lại và tụng. Chỗ bác   chú ý (focus) có thể ở trên cổ, trên ngực, trên bụng, tùy các bác chú ý ở chỗ nào. Nhưng nếu các bác chú ý ở điểm đó thì bác có cần hiểu ý nghĩa không? Không, các bác không cần tìm hiểu ý nghĩa, không nghiên cứu ý nghĩa nữa. Không đọc, không nghiên cứu ý nghĩa làm gì nữa. Tức là những chuyện bác nghiên cứu đã qua rồi, đã hiểu rồi, bây giờ bác vô thất. Không bao giờ bác nhập thất mà không hiểu ý nghĩa, hay không hiểu những chuyện mình làm.

Lý do mà bây giờ thầy bắt đầu giảng vì bây giờ có nhiều đệ tử của thầy nhập thất, có người   bảy ngày, có người 10 người, nhịp độ nhập thất càng ngày càng nhiều. Năm nay mình bắt đầu có đơn xin nhập thất. Tuần rồi, thầy có hai người đi nhập thất 7 ngày, hai cô. Trước đó cũng có nữa. Khi nhập thất như vậy, họ làm gì? Họ chuyên tu thôi. Họ không được cầm sách đọc, không được nói chuyện, mà chỉ lo chuyên tu thôi. Có một lý do rất quan trọng là chúng ta nên dung hòa hai tâm thái: tâm thái biết ý nghĩa trước khi tu và không nên lải nhải ý nghĩa lúc tu trì. Đuợc vậy, chúng ta sẽ hiểu lý do tại sao người ta tu, hồi xưa tại sao tu như vậy.

Bây giờ thầy muốn có một ghi chú (footnote) nhỏ để các bác biết: nếu bác muốn phát triển   siêu lý trí, đối với tất cả các phương thức của thiền sư trong quá khứ, hiện tại và cả vị lai, là   họ phải đè xuống (suppress) lý trí, để không cho trí óc tìm hiểu chuyện này chuyện nọ, bằng   cách là họ bỏ hết tất cả mọi thứ.

Cho nên, chúng ta thường nói “nhất trần bất nhiễm”, tức là một chút xíu chuyện cũng không   nghĩ tới mà chỉ chuyên chú vào đối tượng thiền mà thôi. Đó là các ngày xưa họ hay làm:   suppress rationality, thì siêu lý trí transrationality mới mở ra được.

Đó là lúc tu, còn lúc không tu, khi chúng ta nói chuyện với nhau thì lại khác. Đó là lý do mà khi nãy mình nói lúc mình xuất tục hay tự tu một mình thì không nên lải nhải ý nghĩa; nhưng khi nhập thế, mình ra ngoài tu với người khác, thì mình nên biết ý nghĩa để nói cho người ta hiểu. Vấn đề khó ở chỗ là khi nhập thế để nói chuyện thì mình lại không hiểu, mình hỗn độn giữa nhập thế và xuất tục, giữa cái tự tu và tu với người.

Thầy tin rằng thái độ ngày xưa của các thiền sư rất đúng đắn: khi tu, không biết gì cả. Nhưng điều này chỉ đúng ở phần tự tu thôi, phần mình cột tâm lại; nhưng với phần chia sẻ lại không đúng. Đồng thời, tất cả mọi chuyện, dù siêu lý trí đi chăng nữa, nhưng lúc nào lý trí mình cũng có thể tạo triết lý và tìm được ý nghĩa. Bởi vì con người là người tạo ra ý nghĩa (meaning making being). Khả năng tạo ra ý nghĩa này là khả năng độc đáo của con người, và mình tạo ra ý nghĩa đó. Do đó being là con người mình hay là meaning-making human, mình tạo ý nghĩa. Ý nghĩa tự nó không có ý nghĩa gì cả, nhưng homon sapien của mình sẽ không tồn tại nếu mình không tạo ra ý nghĩa. Loài vật đâu tạo ra ý nghĩa.

Câu hỏi của chị Vân độc đáo bởi vì câu trả lời là Yes, khi tu mình đừng tìm hiểu ý nghĩa gì cả.   Nhưng khi mở mắt ra thì mình phải thông đạt mọi chuyện, và mình đem sự thông đạt đó vô   chuyện tu hành của mình, để khi chắp lại, mình không cần đọc ào ào ra. Mà mình đọc Nam   mô hắc ra đạt na da ra dạ ra, tâm mình thấm nhuần ý nghĩa tôi là vô tận tam bảo, tôi rất là   helpful và good. Mình phải hiểu và thông đạt điểm đó. Hoặc tôi là peaceful, giả dụ như vậy.   Hoặc khi mình đọc Nam mô A lợi da bà lô kiết đế, thước bát ra da, thì mình biết tôi là người   siêu việt ra, bản chất tôi là chơn tâm, siêu việt ra sanh tử luân hồi và tôi chính là người quán   tự tại (self present) ngay đây.

Khi hiểu như vậy, mình tụng một cách sung sướng vô cùng. Trường phái này rất quan trọng.   Thầy cần các bác đang tu chú đại bi hiểu như vậy. Bởi mình quá quen thuộc với việc cứ trì   tụng, trì tụng, mà quên không tìm hiểu ý nghĩa ra sao. Khi hiểu ý nghĩa rồi, các bác để một   thời gian cho lắng lòng lại, lắng nghe lại Bác chấp tay lại và tụng “Nam mô A lợi da bà lô kiết  đế, thước bát ra da” thì mình nhớ “À, cái đó, cái đó đó….” Ý nghĩa tôi là như vậy đó.

Sau khi hiểu rồi, mình ra ngoài chia sẻ với con cái, bạn bè. Tỷ dụ đứa con hỗn láo với mình,   mình sẽ nói sao? Mình phải nói mình là vô tận tam bảo. Nếu bác dụng ý nghĩa đó, từ từ sẽ   thấy con người mình thay đổi. Sao vậy? Vì mình nhận ra bản tánh con người mình là vô tận   tam bảo. Mình nhận ra được là mình có lòng thương, mình khai mở tự tánh của mình. Mỗi  lần động là mỗi lần khai mở, tiếp xúc với tất cả mọi người bằng một quan điểm khác.

Để kết thúc bài này, thầy xin nói để các bác nghe, điểm quan trọng nhất của bài này là sự   thay đổi tầm nhìn và tầng nhìn. Tầng nhìn trong chú đại bi thay đổi là mình hãy nhìn từ chỗ tự tánh nhìn ra, nhìn từ quan điểm của bậc giác ngộ mà nhìn ra. Đó là kết thúc của bài này, hãy nhìn từ quan điểm của bậc giác ngộ nhìn ra, đừng cho rằng mình cần phải tu thêm rồi mới giác ngộ. Không. Đó là quan điểm xưa. Quan điểm mới nói rằng yes, chỉ cần trở tay ra một chút, hãy nghĩ rằng mình có vô tận tình thương trong đây nè. Hãy nghĩ như vậy thì mình sẽ cho tình thương ra được. Chớ nếu mình nói không, tôi không thương ai cả, thì không đuợc. Hoặc nói rằng, chưa, tôi phải tu cho thành rồi mới cho tình thương. Lâu quá. Sợ rằng khi bác tu thành rồi, thì con cái bác lại thành trước. và cái người mình thù lại thành trước. Thành ra bác phải nghĩ rằng mình có vô tận tình thương, hãy bày tỏ tình thương liền với người đó, tha cho người đó hay thương người đó đi.

Sự suy nghĩ đó là nền tảng của chú đại bi. Chú đại bi nói mình có sẵn tình thương vô tận mà   không chịu xử dụng, bây giờ hãy xử dụng nó đi. Đó là kết luận của bài này.

Các bác hãy chờ tới bài sau, bài sau còn hay hơn nữa vì bắt đầu đi sâu vô hơn cách chuyển   hóa từng phần từng phần một. Phần sau, câu 7, 8 đó.

Giải thích Mạn Đà La

Thầy Thích Hằng Trường giảng, Xuân Dung ghi lại 

Xin chào các bác và các anh chị,

Hôm nay thầy xin nói về đề tài Mạn Đà La. Đây chỉ là phần nhỏ để chúng ta hiểu sơ sơ về mạn đà la.

Chữ mạn đà la ngày xưa được dùng để nói về môt đàn tràng. Đàn là hình vuông, tràng là tràng sở hay trường sở, là một chỗ. Đàn tràng nghĩa là một chỗ vuông vức. Vuông vức là gì? Nghĩa là tâm hội tụ ở trong đó. Ngày xưa mạn đà là chỉ là một hình vẽ, rồi ta chuyên tâm, chú tâm vào hình vẽ đó. Sau này từ từ phát triển ra thành một cái tháp ba chiều. Vẫn là hình vẽ nhưng có thêm đồ đạc, thành ba chiều. Mạn đà la này được người Tây Tạng làm trên cát; nhưng nguời Nhật thì vẽ rất to, có khi bằng cả một bức tường hoặc nằm trên mặt đất rất to. Điều này cho thấy mạn đà la có nhiều hình thức khác nhau. Mạn đa là ba chiều, thí dụ về pháp khí có ngài Quan Âm bồ tát cầm tịnh bình. Tịnh bình cũng là một loại mạn đà la. Mạn đà la này nói lên sự nghiệp của ngài. Gọi là yết ma. Sự nghiệp ngài làm gói ghém trong đó tất cả những gì ngài làm. Có khi mạn đà la là một bức tranh vẽ hình ngài, sự nghiệp của ngài hay những chuyện mà ngài làm. Thành ra các bác thấy hình ngài đứng trên đầu rồng, chứng tỏ ngài đã hoàn toàn ngự trị sự giận dữ. Rồng tượng trưng cho tánh nóng nẩy, thích giận, thích lẫy, hay vung vẩy bên này, đá bên kia, không ai kiểm soát được. Khi ngồi trước hình tượng Quan Âm như vậy, chúng ta hãy nhớ đi ra khỏi sự nóng giận, thích giận thích lẫy, những cơn giận không thể đoán trước được (unpredictable).

Mạn đà la có nhiều loại, nhiều ý nghĩa. Có những cái mà người Nhật, hay Trung Hoa, Tây Tạng vẽ chữ Phạn để khi nhìn ta sẽ chuyên chú vào chữ Phạn đó, từ đó ta tìm ra được chơn tâm của mình. Chữ Phạn đó là chỗ để tập trung. Các bác thấy phía sau thầy có chữ Bi. Đây cũng là một mạn đà la. Là chữ mà người ta tập trung vào đó để đạt tới trạng thái tâm hoàn toàn trống rỗng. Cho nên mạn đà la ở mọi hình dạng, ở bất kỳ hình thức nào mà khiến tâm mình chuyên chú và xuyên qua ngũ ấm (sắc thọ tưởng hành thức).

Sắc: là thân xác. Con người mình lúc nào cũng bị kẹt trong thân xác. Thí dụ: lúc nào cũng nghĩ tới ăn uống, bỏ không biết bao nhiêu thì giờ để nấu nướng ngõ hầu ăn cho ngon.

Thọ: là cảm xúc, cảm tình, cảm tưởng. Nhiều khi lúc nào ta cũng thích cảm xúc, là những cảm giác vui, kích thích.

Tưởng: là sự suy nghĩ, cảm tưởng, quan niệm, là những suy nghĩ trong đầu mình.

Hành: là những tập quán, những thói quen hàng ngày của mình. Tại sao ta làm việc này mà không làm việc kia, tại sao ta nghĩ chuyện này mà không nghĩ chuyện kia; tại sao lúc trẻ ta có những thói quen này, nhưng khi về già lại có những thói quen kia.

Thức: là khả năng nhận tri, nhận thức. Khả năng con mắt mình nhìn biết, lỗ mũi ngửi, lưỡi nếm được mà tại sao con mắt mình không thể nếm, lưỡi không thể nhìn, mũi không thể nghe, tai không rờ được? Không, mỗi giác quan có một công năng. Thức là sự nhận biết.

Mạn đà la giúp ta đi xuyên qua năm tầng đó (sắc thọ tưởng hành thức) để tới được chỗ gọi là tự tánh quang minh, là sự sáng suốt nội tại. Sự sáng suốt này lúc nào cũng hiển hiện trong tai mắt mũi lưỡi thân, trong tất cả mọi chuyện ta tiếp xúc, nhưng ta lại không để ý. Cho nên lúc nào ta cũng bị kẹt trong tư tưởng, trong cảm xúc, trong thân xác mà không nhớ tới. Mạn đà la là chỗ tập trung tinh thần, tinh lực để xuyên phá qua năm tầng đó.

Khi ta xuyên phá qua, đức Phật nói “khi con xuyên phá qua năm bức màn đó, con sẽ gặp ta và ta đã phát nguyện là sẽ gặp con ở đó”. Mạn đà la là chỗ đức Phật ngự trị, đức Phật hiện ra. Đức Phật không có ngũ ấm. Ngài không có sắc thọ tưởng hành thức. Ngài đã ra ngoài và đã giải thoát rồi. Ngoài ra đức Phật cũng không ở trong ngũ đại nữa, nhưng ngài dùng phương thức này để cho mình biết rằng nếu ta đi xuyên qua ngũ ấm hay ngũ đại thì ngài sẽ ở đó. Ngài ở đó tức là ta đã xuyên qua. Ta đã xuyên qua tức là ngài ở đó. Hai việc này là một.

Nếu mình chưa xuyên qua, ngài sẽ nói “không can chi, ta sẽ hiển hiện, ta sẽ phóng quang. Mạn đà la là chỗ mình sẽ tới và mình sẽ cảm nhận được hào quang của chư Phật. Các bác có thể hỏi: ”Thưa thầy, hào quang nằm đâu sao con không thấy?” Thưa bác, là sự sáng suốt nội tại. Thí dụ ta chấp vào chuyện ăn uống, khi ngồi trong mạn đà la tự nhiên sẽ nhận ra là ta ham ăn lắm, hãy bỏ đi. Tư tưởng biết mình ham ăn và phải bỏ đi. Tư tưởng đó chính là Phật. Mình đã thấy vị Phật của mình rồi, thưa các bác. Hoặc lúc nào mình cũng ham thích sự kích thích (excitement), lúc nào cũng nghĩ ta phải làm việc này, làm việc kia. Bây giờ ngồi trong mạn đà la trì chú, tự nhiên ta nhận ra là mình có một điểm mù lúc nào cũng theo đuổi sự kích thích. Sự nhận biết đó không phải là thức mà là sự giác ngộ. Giác ngộ chính là vị Phật mà chúng ta phải gặp trong mạn đà la. Vị Phật ở đây không còn là một hình tướng mà là sự sáng suốt, nhận ra điểm mù, thấy được mình.

Tại sao trong mạn đà la hay tu tập mạn đà la có sự hiện diện của chư Phật? Bởi vì mỗi người vô ngồi sẽ cảm nhận được sự sáng suốt của mình, thấy được cái giới hạn, sự hạn hẹp của mình, và ra khỏi sự hạn hẹp đó.

Đó là ý nghĩa triết học, triết lý cũng như phương thức của triết lý tu hành của mạn đà la. Khi vào trong mạn đà la Di Đà, chữ A Di Đà có nghĩa là vô lượng quang, có nghĩa là sức mạnh hào quang trong tự tâm mình sẽ hiển hiện ra, sự sáng suốt trong nội tâm mình sẽ hiển hiện ra, vô lượng quang minh tức A Di Đà sẽ hiện ra trong ta. Phật là giác ngộ, cho nên ta sẽ giác, sẽ thấy, sẽ nhận ra hào quang ở trong tâm của mình khi ta vào trong mạn đà la Di Đà hay đàn tràng Di Đà. Đó là sự hy vọng cũng như là triết lý hay cốt lõi của tu mạn đà la: nhận diện được bản năng thành Phật của mình ngay tại đây, ngay bây giờ.

Do đó, khi vào tu tập, các bác hãy nhớ lắng lòng xuống, hãy trì chú để tâm chúng ta được nhẹ nhàng ngõ hầu nhận tri được ông Phật nằm ngay trong tâm mình, chớ không phải ngoài xa. Ông Phật đó không thuộc về ngũ ấm. Ông Phật đó, chúng ta gọi là ông Phật giải thoát, nằm ngay đây. Nhìn vào mạn đà la, các bác sẽ thấy ông Phật đó nằm ở vòng tròn trong cùng. Bên ngoài là năm lớp sắc thọ tưởng hành thức, nhưng bên trong có một vòng tròn tượng trưng nói rằng ông Phật lúc nào cũng có trong ta, chúng ta phải nhìn cho đúng chỗ, phải mở tâm ra, để ông Phật không còn bị cột trói trong năm vòng ngũ ấm nữa.

Hy vọng các bác sẽ thích thú (enjoy) với mạn đà la Di Đà kỳ này. Cám ơn các bác đã lắng nghe.

Ý nghĩa Cầu An

Chào các bác, các anh chị thân mến,

Hôm nay thầy sẽ nói cho các bác và các anh chị nghe về ý nghĩa của cầu an.

Cầu an là một phong cách mà chúng ta thấy thường xuyên nhất trong Phật giáo. Những người được cầu an thường là những người thân thương của mình. Quan niệm cầu an thật sự không phải của Phật giáo mà là một tín ngưỡng của nhân gian, nhưng Phật giáo dùng nó để bầy tỏ tình thương của mình đối với những người mình quen thuộc, có thể là những người trong gia đình của mình, có thể là bạn bè, có thể là những người mình làm việc chung. Như thế cầu an được quan niệm như thế nào?

Theo quan niệm cầu an thì phải có một người có vấn đề, hoặc là gặp khó khăn, bệnh hoạn, có sự đau khổ, rối rắm gì đó. Mình bây giờ ở đây, muốn người đó thoát khỏi những khổ nạn đó. Đó là tư tưởng mình làm sao giúp một người nào đó. Người thân thương này đương nhiên mình phải biết, phải quen, có mối quan hệ nối liền thì mới có thể cầu an được.

Nhưng lại có những sự phía sau là những người cầu an cầu rằng “bây giờ con cầu xin chư Phật chư bồ tát cứu giúp người đó”. Quan niệm đó cũng đúng hoàn toàn bởi vì khi mình cảm thấy bất lực, cảm thấy yếu đuối, cảm thấy không có khả năng, mình rất thương người kia, mà họ lại đang gặp khó khăn, nên mình muốn chư Phật chư bồ tát, những vị ở bên trên có quyền năng để giúp người mình cần giúp. Quan niệm này cũng đúng, và nếu bác hết sức thành tâm thì thế nào cũng có sự linh ứng. Nhưng nếu không thành tâm thì sao? Thì không có sự linh ứng.

Nhưng có những người trong Phật giáo chúng ta không phải lúc nào cũng muốn có chư Phật chư bồ tát giúp đỡ. Họ nghĩ mình phải có sức mạnh để tự cứu giúp. với những người này, sự cầu an không có ý nghĩa, bởi vì họ tin rằng tự mình phải làm. Nếu có một người nào bệnh, chúng ta tới nói họ cách uống thuốc, cổ võ họ. Tại vì mình tự tin mình, không tin Phật bồ tát, không tin ai cả. Đó là thái độ tự tin, có một tư tưởng rất mạnh về chính mình, nhưng mình không truyền đạt tình thương tới người mình muốn cứu giúp được. Do đó, người được cứu giúp không cảm nhận được tình thương của mình.

Còn có một thái độ thứ ba mà chúng ta thấy rất nhiều, đó là mình tin chư Phật, chư bồ tát đồng thời mình tin vào sức mạnh của mình. Mình có một cái hay là mình cũng thương người đó lắm, nhưng không tới khuyên nhủ, cổ võ họ. Bởi nhiều khi người đó đang bệnh nặng, không có sức để cầu nguyện, tụng kinh, không làm được gì cả, chỉ nằm một chỗ. Hoặc có người khó khăn, rối rắm quá, mình khuyên họ niệm Phật, họ không làm được vì họ quá rối rắm. Hoặc có những người khác mình dạy họ cách lạy Phật, nhưng họ cũng không đủ sức lạy Phật. Trong trường hợp này, tâm thức của loại người thứ ba này không những là tự tin mình tin Phật, mà còn nghĩ rằng mình phải mở lòng hơn. Thay vì nói “bác làm đi” thì mình nói: ”Để tôi làm dùm cho chị. Chị không lạy được, tôi sẽ lạy dùm cho chị. Bác không thể niệm Phật được, con xin niệm Phật cho bác”. Hoặc nhiều khi “mẹ đau nặng quá, không thể niệm Phật được, lại đang mê man, con sẽ tu dùm cho mẹ”.

Tư tưởng tu dùm một mặt vẫn không phủ nhận sự hiện diện của chư Phật chư bồ tát, cung thỉnh các ngài lan tỏa hào quang, để làm cho tâm tư người đang bệnh, đang gặp khó khăn, để chuyển đổi cuộc sống của họ. Chúng ta vừa nhờ tự lực, vừa nhờ tha lực để giúp một người, đó là phương pháp viên mãn nhất. Chúng ta không phủ nhận sự hiện diện của ơn trên, chúng ta không xin xỏ mà chỉ làm họ cảm động bởi lòng thành, rồi chúng ta giúp họ. Sự phối hợp giữa tự lực và tha lực như vậy khiến cho việc cầu an được thành công. Mình cầu an 10 người thì 10 người được hưởng phước đức, và 10 người có thể có sự thay đổi rất rõ ràng.

Trong pháp hội Di đà, chúng ta có một phương thức hay lắm. Khi mình cầu nguyện cho người nào thì mình đề “tất cả nghiệp chướng trên thân của …..”, rồi đề tên của người đó vào. Khi mình cầu nguyện cho người đó, bao nhiêu nghiệp chướng của người đó sẽ được hưởng cái phước. Và mình nói mình tu dùm cho người đó, thành ra nghiệp chướng của họ được tiêu trừ, họ hưởng phước đức. Đó là sự viên mãn nhất của lễ cầu an. Nghi thức cầu an là mình vừa tu, vừa hồi hướng, tu dùm vừa thỉnh chư Phật chư bồ tát ban bố ân đức và phước lành. Cho nên cầu an không còn là một chuyện xin xỏ nữa mà thực sự là một cách tu để bày tỏ tình thương của mình, lan tỏa tình thương, bày tỏ lòng tin của mình đối với chư Phật, chư bồ tát, đối với ơn trên, đối với tất cả mọi người xung quanh mình. Lòng tin đó rất quan trọng trong Phật pháp. Nhiều khi chúng ta cứ nghĩ chư Phật chư bồ tát là những người có thể sửa đổi, thay đổi nghiệp chướng của mình. Chúng ta quên rằng mình phải có nỗ lực làm.

Quan điểm thầy vừa trình bày là một mặt chúng ta tu dùm, một mặt chúng ta thỉnh chư Phật chư bồ tát để lan tỏa hào quang. Phương thức đó viên mãn nhất. Trong pháp hội Di Đà này chúng ta hy vọng rằng chúng ta sẽ thực hành việc này. Các bác sẽ có những bài vị, các bác sẽ biên tên người bác muốn cầu nguyện xuống, và tất cả nghiệp chướng của người đó được tiêu trừ.

Nhưng nếu bác nói “con muốn tiêu trừ nghiệp chướng của con thì sao?” Bác cũng dùng bài vị này, biên tên mình xuống, biên vô “tất cả nghiệp chướng trên thân tôi” để nhớ rằng mình tu dùm cho những nghiệp chướng trên thân của mình Như vậy cũng rất hiệu quả và đó là con đường chúng ta thấy Phật pháp trong thời đại bây giờ càng lúc càng không nên mê tín. Tu Phật pháp là làm sao biểu hiện tình thương của mình, và mình phối hợp được chuyện trong ngoài, trên dưới, thì lòng tin của mình mới vững chắc được.