Ý nghĩa Cầu An

Chào các bác, các anh chị thân mến,

Hôm nay thầy sẽ nói cho các bác và các anh chị nghe về ý nghĩa của cầu an.

Cầu an là một phong cách mà chúng ta thấy thường xuyên nhất trong Phật giáo. Những người được cầu an thường là những người thân thương của mình. Quan niệm cầu an thật sự không phải của Phật giáo mà là một tín ngưỡng của nhân gian, nhưng Phật giáo dùng nó để bầy tỏ tình thương của mình đối với những người mình quen thuộc, có thể là những người trong gia đình của mình, có thể là bạn bè, có thể là những người mình làm việc chung. Như thế cầu an được quan niệm như thế nào?

Theo quan niệm cầu an thì phải có một người có vấn đề, hoặc là gặp khó khăn, bệnh hoạn, có sự đau khổ, rối rắm gì đó. Mình bây giờ ở đây, muốn người đó thoát khỏi những khổ nạn đó. Đó là tư tưởng mình làm sao giúp một người nào đó. Người thân thương này đương nhiên mình phải biết, phải quen, có mối quan hệ nối liền thì mới có thể cầu an được.

Nhưng lại có những sự phía sau là những người cầu an cầu rằng “bây giờ con cầu xin chư Phật chư bồ tát cứu giúp người đó”. Quan niệm đó cũng đúng hoàn toàn bởi vì khi mình cảm thấy bất lực, cảm thấy yếu đuối, cảm thấy không có khả năng, mình rất thương người kia, mà họ lại đang gặp khó khăn, nên mình muốn chư Phật chư bồ tát, những vị ở bên trên có quyền năng để giúp người mình cần giúp. Quan niệm này cũng đúng, và nếu bác hết sức thành tâm thì thế nào cũng có sự linh ứng. Nhưng nếu không thành tâm thì sao? Thì không có sự linh ứng.

Nhưng có những người trong Phật giáo chúng ta không phải lúc nào cũng muốn có chư Phật chư bồ tát giúp đỡ. Họ nghĩ mình phải có sức mạnh để tự cứu giúp. với những người này, sự cầu an không có ý nghĩa, bởi vì họ tin rằng tự mình phải làm. Nếu có một người nào bệnh, chúng ta tới nói họ cách uống thuốc, cổ võ họ. Tại vì mình tự tin mình, không tin Phật bồ tát, không tin ai cả. Đó là thái độ tự tin, có một tư tưởng rất mạnh về chính mình, nhưng mình không truyền đạt tình thương tới người mình muốn cứu giúp được. Do đó, người được cứu giúp không cảm nhận được tình thương của mình.

Còn có một thái độ thứ ba mà chúng ta thấy rất nhiều, đó là mình tin chư Phật, chư bồ tát đồng thời mình tin vào sức mạnh của mình. Mình có một cái hay là mình cũng thương người đó lắm, nhưng không tới khuyên nhủ, cổ võ họ. Bởi nhiều khi người đó đang bệnh nặng, không có sức để cầu nguyện, tụng kinh, không làm được gì cả, chỉ nằm một chỗ. Hoặc có người khó khăn, rối rắm quá, mình khuyên họ niệm Phật, họ không làm được vì họ quá rối rắm. Hoặc có những người khác mình dạy họ cách lạy Phật, nhưng họ cũng không đủ sức lạy Phật. Trong trường hợp này, tâm thức của loại người thứ ba này không những là tự tin mình tin Phật, mà còn nghĩ rằng mình phải mở lòng hơn. Thay vì nói “bác làm đi” thì mình nói: ”Để tôi làm dùm cho chị. Chị không lạy được, tôi sẽ lạy dùm cho chị. Bác không thể niệm Phật được, con xin niệm Phật cho bác”. Hoặc nhiều khi “mẹ đau nặng quá, không thể niệm Phật được, lại đang mê man, con sẽ tu dùm cho mẹ”.

Tư tưởng tu dùm một mặt vẫn không phủ nhận sự hiện diện của chư Phật chư bồ tát, cung thỉnh các ngài lan tỏa hào quang, để làm cho tâm tư người đang bệnh, đang gặp khó khăn, để chuyển đổi cuộc sống của họ. Chúng ta vừa nhờ tự lực, vừa nhờ tha lực để giúp một người, đó là phương pháp viên mãn nhất. Chúng ta không phủ nhận sự hiện diện của ơn trên, chúng ta không xin xỏ mà chỉ làm họ cảm động bởi lòng thành, rồi chúng ta giúp họ. Sự phối hợp giữa tự lực và tha lực như vậy khiến cho việc cầu an được thành công. Mình cầu an 10 người thì 10 người được hưởng phước đức, và 10 người có thể có sự thay đổi rất rõ ràng.

Trong pháp hội Di đà, chúng ta có một phương thức hay lắm. Khi mình cầu nguyện cho người nào thì mình đề “tất cả nghiệp chướng trên thân của …..”, rồi đề tên của người đó vào. Khi mình cầu nguyện cho người đó, bao nhiêu nghiệp chướng của người đó sẽ được hưởng cái phước. Và mình nói mình tu dùm cho người đó, thành ra nghiệp chướng của họ được tiêu trừ, họ hưởng phước đức. Đó là sự viên mãn nhất của lễ cầu an. Nghi thức cầu an là mình vừa tu, vừa hồi hướng, tu dùm vừa thỉnh chư Phật chư bồ tát ban bố ân đức và phước lành. Cho nên cầu an không còn là một chuyện xin xỏ nữa mà thực sự là một cách tu để bày tỏ tình thương của mình, lan tỏa tình thương, bày tỏ lòng tin của mình đối với chư Phật, chư bồ tát, đối với ơn trên, đối với tất cả mọi người xung quanh mình. Lòng tin đó rất quan trọng trong Phật pháp. Nhiều khi chúng ta cứ nghĩ chư Phật chư bồ tát là những người có thể sửa đổi, thay đổi nghiệp chướng của mình. Chúng ta quên rằng mình phải có nỗ lực làm.

Quan điểm thầy vừa trình bày là một mặt chúng ta tu dùm, một mặt chúng ta thỉnh chư Phật chư bồ tát để lan tỏa hào quang. Phương thức đó viên mãn nhất. Trong pháp hội Di Đà này chúng ta hy vọng rằng chúng ta sẽ thực hành việc này. Các bác sẽ có những bài vị, các bác sẽ biên tên người bác muốn cầu nguyện xuống, và tất cả nghiệp chướng của người đó được tiêu trừ.

Nhưng nếu bác nói “con muốn tiêu trừ nghiệp chướng của con thì sao?” Bác cũng dùng bài vị này, biên tên mình xuống, biên vô “tất cả nghiệp chướng trên thân tôi” để nhớ rằng mình tu dùm cho những nghiệp chướng trên thân của mình Như vậy cũng rất hiệu quả và đó là con đường chúng ta thấy Phật pháp trong thời đại bây giờ càng lúc càng không nên mê tín. Tu Phật pháp là làm sao biểu hiện tình thương của mình, và mình phối hợp được chuyện trong ngoài, trên dưới, thì lòng tin của mình mới vững chắc được.

Ý nghĩa chú Thất Phật

Thầy Thích Hằng Trường giảng, Xuân Dung ghi lại

Kính chào các bác và các anh chị,

Hôm nay thầy sẽ nói về đề tài những chú mà chúng ta sẽ học trong pháp hội Di Đà. Một trong những bài quan trọng là chú Thất Phật.

Bài chú Bạt nhứt thiết nghiệp chướng, đắc sinh tịnh độ Đà Là Ni đương nhiên là quan trọng rồi. Nhưng chú thất Phật này cũng rất quan trọng vì là thất Phật diệt tội chơn ngôn. Tại sao gọi là thất Phật? Vì có bảy vị Phật cùng nhau nói chú này. Tại sao bảy vị Phật cùng nói một chú? Chắc là các ngài thấy chú này quan trọng cỡ nào rồi. Bảy vị Phật đó là ai? Đó là: Tỳ bà Thi Phật, Thi khí Phật, Tỳ Xá cổ Phật, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật và Thích Ca Mâu Ni Phật. Bẩy vị này là Phật trong quá khứ, tại sao chúng ta phải tụng chú của các ngài. Các ngài nói bẩy vị Phật mà diệt tội. Tội không phải trong tương lai, mà tội là những chuyện gì ta đã làm trong quá khứ. Làm sao ta diệt những tội này được?

Các ngài giúp ta đọc lên chú này để có thần lực mà diệt tội. Nhưng làm sao diệt tội được? Thì đây:

Khi tu chúng ta phải biết hướng cuộc sống về tương lai. Mình phải ở trong hiện tại và ra ngoài quá khứ. Nhưng nhiều khi mình cứ ở trong quá khứ, mình có những nỗi buồn, người thân của mình vừa mất, ra đi, mình không thể quên được; hoặc có những người nói câu này câu kia, mình không thể buông được, trong lòng cứ khó chịu hoài. Đó là mình sống trong quá khứ. Hoặc có những kinh nghiệm đau đớn, khiến mình cảm thấy ta không được vẹn toàn như một người khác; hoặc những kinh nghiệm khiến ta cảm thấy mất mát đi niềm vui của cuộc sống, những kinh nghiệm đau khổ, những kinh nghiệm khiến mình cảm thấy bất công, trào dâng hận thù khi nghĩ tới. Những nỗi niềm đó ở trong ký ức, trong trí nhớ của mình. Trí nhớ là cái làm cho quá khứ tồn tại. Dó đó đức Phật nói muốn giải thoát thì ta phải giải thoát ra khỏi trí nhớ đó trước đã. Đến khi nhớ lại chuyện quá khứ, giống như vuốt bàn xuống, không nắm bắt, không đẩy tới không đem về, không gạt đi. Ta biết rằng quá khứ chỉ là một bóng đen, trôi như như chiếc lá trên giòng nước. Khi nghĩ như vậy, ta sẽ thấy rằng không cần phải lúc nào cũng giữ chuyện quá khứ trong đầu óc, mà phải thiết thực nhìn vào quá khứ, nhìn vào ánh sáng không cần nhìn bóng tối. Con người chúng ta có nhiều tuyển chọn, nếu ta chọn nhìn vào ánh sáng thì lúc nào cũng đẹp hơn, dễ chịu hơn. Nếu lúc nào ta cũng nhìn vào cái đẹp, ta sẽ thấy vui hơn là nhìn vào cái xấu, vì cái xấu khiến tâm ta không cởi mở.

Chú Thất Phật giúp ta nhìn vào quá khứ, thấy được bóng tối, chuyển ra nhìn vào ánh sáng. Ánh sáng là gì? Là bẩy vị Phật. Tại sao gọi là bẩy vị Phật? Có nghĩa là vô lượng vô biên. Cho nên khi nhìn vào bảy vị Phật là ta nhìn vào vô lượng vô biên vẻ đẹp của mình trong quá khứ. Ta không cần chỉ nhìn vào chuyện xấu của mình, hay những kinh nghiệm đau đớn của mình mãi. Ta còn nhiều cái đẹp và ta có vô lượng vô biên niềm vui, ánh sáng, tình thương của mình, mà trong quá khứ ta vốn đã có nhưng không nghĩ tới.

Trì chú thất Phật là ý nói rằng ta làm sao để nhờ trì chú này ta mở ra hào quang bất tận trong quá khứ. Những chuyện đẹp, những lời nói, những hành động, ánh mắt cho tới những nụ cười ta ban bố cho nguời khác. Hãy nhìn vào đó vì đó là những quang minh, những ánh sáng, những tình thương. Để chi vậy? Để chúng ta thấy quá khứ rất đẹp, không phải chỉ là những kinh nghiệm đau buồn mà thôi đâu. Cho nên hãy nhìn đúng chỗ, đừng nhìn trật chỗ. Vì vậy ta nên nhìn vào quá khứ và nghĩ rằng nhiều người ta làm 100 chuyện tốt và một chuyện xấu với mình, hãy nhìn 100 chuyện tốt đó, đừng nhìn một chuyện xấu kia. Nếu người làm 100 chuyện xấu và một chuyện tốt thôi, hãy rán nhìn chuyện tốt đó và đừng nghĩ tới những chuyện xấu làm chi. Bởi rốt cuộc ai là người sung sướng? Chính ta là người sung sướng. Thí dụ ta nhìn vào một cái ly đã vơi một nửa hay đầy một nửa, tùy cách ta chọn để nhìn mà thôi.

Đó là một trong những cách suy nghĩ rất quan trọng khi trì chú thất Phật diệt tội. Cho nên thất Phật là quang minh; diệt tội là bóng tối. Ta trì chú này nghĩa là ta nhìn vào quá khứ, chuyện tội hay xấu, chuyện buồn hay chuyện đau khổ, ta hãy để cho ký ức của những chuyện này từ từ tan đi. Ta nhìn, ta nhớ nhưng không còn xúc động nữa; và hãy để cho thất Phật, ánh sáng của quang minh, tình thương lan tỏa ra trong hiện tại, qua cả tương lai.

Chú thất Phật giải quyết những gút thắt của nội tâm trong quá khứ. Nhưng chú vãng sinh là giải quyết cho ta con đường tương lai mà ta sẽ đi. Đường quá khứ, đường tương lai, hai con đường này phối hợp lại thành một sự xuyết suốt của sự tu hành. Cho nên ta phải trì chú thật Phật diệt tội chân ngôn; cũng phải trì chú Bạt nhứt thiết nghiệp chướng, đắc sanh tịnh độ Đà La Ni. Hai chú đó, một là giải quyết chuyện quá khứ, bóng tối, mở ra ánh sáng. Chú thứ nhì là mở ra ánh sáng để hướng dẫn tương lai. Hai chú đó liên hợp với nhau để tạo thành một chuỗi tu hành không gián đoạn.

Đó là hai câu chú rường cột nhất mà trong pháp hội Di Đà chúng ta sẽ thường trì tụng hai chú đó nhất. Với các bác ở nhà, cũng nên trì tụng hai chú đó dù là một tiếng cũng được.

Cám ơn các bác đã lắng nghe.

Ý nghĩa Cầu Siêu

Chào các bác,

Hôm nay thầy sẽ nói cho các bác và các anh chị nghe về ý nghĩa của cầu siêu và làm thế nào để việc cầu siêu được đúng đắn.

Mỗi người cần có một bài vị. Trên bài vị này đề tên của người quá cố hay tên của vong linh, hay hương linh. Tấm bài vị này rất hay, tượng trưng cho thân thể của người đã quá cố. Nói cách khác, con người chúng ta khi ra đi, có người còn ở trong cõi trung ấm trung hữu, chưa đi được; bây giờ chúng ta giúp cho họ ra đi. Có những người đã ra đi, nhưng ở những cõi dưới như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, hoặc nhiều khi còn những vấn vương, những gút thắt trong lòng chưa giải quyết được, nên vẫn còn trong cõi giữa âm giữa dương. Chúng ta biết họ còn trong cõi âm, trong bóng tối, mà mình thì ở cõi sáng, nên muốn giúp cho họ một phương tiện bằng cách làm cho họ một bài vị. Bài vị này là phương cách giúp họ có một cái thân. Có thân họ mới có thể tới tu hành với chúng ta được.

Quan niệm quan trọng trong thời đại bây giờ là, thưa các bác, chúng ta không nghĩ là mình cao hơn những người trong hạ giới, trong cõi âm, mà nghĩ rằng họ cũng có khả năng để thành Phật. Họ có bản tánh Phật rồi, nhưng làm sao khơi dậy bản tánh đó, cho nên chúng ta xin cho họ có một cái thân tượng trưng như vậy. Đồng thời chúng ta quan niệm rằng mình xin họ tới tu cùng. Nếu họ có ý niệm tới tu là sẽ được giải thoát ngay. Nhưng nếu họ chưa có quan niệm giải thoát, chưa biết làm sao tu, nhưng tình thương của chúng ta hấp dẫn họ và cái tên của họ mà mình viết, ngày nào cũng mình cũng nhớ, cầu, mời họ tới, thì thế nào người đó cũng có cảm ứng và họ sẽ tới. Khi họ tới thì trong tích tắc, họ sẽ được giải thoát. Nêu họ không được giải thoát cũng không can gì. Ch úng ta còn một pháp hội đặc biệt để đưa họ vào vòng giải thoát.

Triết lý hay sự suy nghĩ của chúng ta là kính trọng tất cả những người trong cõi âm. Chúng ta không cõi thường hay nghĩ rằng mình có thần lực hay quyền lực, mà nghĩ rằng chúng ta làm cho họ cảm động, thấy rằng chúng ta đối xử với họ bằng một tấm lòng và tình thương. Đó là chìa khóa đầu tiên.

Chúng ta phải có tình thương với những người chúng ta cầu nguyện, vì chúng ta biết họ. Có thể là những người thân ngày xưa mình sống chung, người thân quen, hoặc bạn bè, hoặc là những người có gút thắt trong lòng mình mà mình chưa giải mở được. Chúng ta đều mong họ được lợi ích.

Sau khi có những người này trong tâm rồi, chúng ta viết tên xuống, bây giờ chúng ta mới cầu. Có loại người cần chúng ta cầu rất nhiều là những thai nhi lỡ bị phá thai. Những em này chưa có cơ hội vãng sinh, hay đã đi đầu thai nhưng bị qua đời ngay trong bụng mẹ. Trong những trường hợp này, có sự oán hận hay thù hằn, nên chúng ta cần cho nhiều tình thương hơn. Chúng ta cần viết tên đó lên bài vị và đeo hàng ngày. Thầy sẽ có một cái bao để các bác bỏ vào và đeo lên người, để vong nhân đó, thai nhi đó, hương linh đó cùng tu với mình. Mình có thể nói như vầy, bao nhiêu chuyện tu hành của mình, khi mình lạy một lạy, thực sự là lạy cho vong linh đó; lạy thứ hai cũng là cho những vong linh đó. Như vậy, một lạy của mình cho biết bao vong linh mà mình viết tên trên bài vị. Do đó chuyện tu hành của chúng ta trong ba ngày Pháp hội hoặc trong thời kỳ xuất gia đoản kỳ hoặc trong hạnh bồ tát đi giúp pháp hội. Tất cả đều vì người mình muốn cho họ có lợi ích. Như thế việc cầu siêu không còn là chuyện dán bài vị lên rồi cầu mong đức Phật cứu độ nữa; mà mình cầu mong rằng mình sẽ nỗ lực đem công đức này tu dùm, cúng dường cho các vong linh. Những vong linh này cũng tu với mình, đồng thời chúng ta cũng thỉnh chư Phật chư bồ tát phóng hào quang xuống trợ giúp. Như vậy vừa có tự lực của chúng ta, của vong linh nếu họ có sự hiểu biết và có cách thông đạt; và cuối cùng cả là nhờ tha lực của Phật. Chúng ta sẽ không có tư tưởng tất cả chỉ nhờ Phât thôi, mà chính mình phải hy sinh, phải tu. Chúng ta dùng tình thương của mình để tu, dùng động cơ của mình là thực sự muốn vong linh đó được hưởng phước, hưởng trí huệ cũng như là hào quang. Chúng ta mong rằng lúc nào chư Phật chư bồ tát cũng ở đó để bảo vệ và phóng quang.

Như vậy chuyện tu hành của chúng ta không còn là một sự mê tín nữa và cũng không còn nghĩ rằng chỉ có chư Phật bồ tát giúp. Quan trọng nhất là lúc nào chúng ta cũng nỗ lực, tinh tấn hết sức và biết rằng chúng ta tu là tu dùm cho các vong linh. Khi cầu siêu là chúng ta tu dùm cho các vong linh.

Cám ơn các bác đã lắng nghe.